* Thưa ông, lịch sử của dân tộc ta, người trẻ tuổi được xã hội đặt ở vị trí nào trong sự phát triển của đất nước?
- Với một dân tộc chịu đựng nhiều thử thách như dân tộc Việt Nam, ý thức về sự giao phó thế hệ có từ rất sớm. Đó là ý thức phải tiếp nối nhau trong một sự nghiệp lâu dài, trước hết là sự nghiệp chống chọi với thiên nhiên.
Từ câu chuyện “Sơn Tinh, Thủy Tinh” đến mãi về sau này ta đều thấy rõ việc đối phó với thiên nhiên của một xứ sản xuất nông nghiệp lúa nước đòi hỏi tính cộng đồng rất cao và không ngưng nghỉ như việc đắp đê, đào mương dẫn nước và đương nhiên sức trẻ luôn là một nhân tố mang tính chất quyết định bên cạnh lớp người đi trước, nay đã già nhưng đã được trao truyền và tích tụ kinh nghiệm ngay khi còn trẻ. Cũng như vậy đối với sự nghiệp giữ nước, đương đầu thường trực với những nguy cơ xâm lăng từ bên ngoài. Đó là hai yếu tố quan trọng, mặc dù dân tộc ta cũng hết sức tôn trọng người già với truyền thống trọng xỉ, trọng lão.
Một nét đặc sắc nữa khi ta nhắc đến chế độ “Thái thượng hoàng” của nhà Trần gắn liền với một thời đại lịch sử nhiều thử thách với ba cuộc xâm lăng của Nguyên-Mông, cũng là ba cuộc kháng chiến giữ nước của vua tôi nhà Trần. Không giống như “Thái thượng hoàng” của Trung Hoa, ở Đại Việt thời Trần, vua cha rời ngôi làm Thái thượng hoàng nhưng không lui về ở ẩn mà tiếp tục sát cánh với vua (con). Trở thành Vua cha để đào luyện được một thế hệ kế tục, đủ sức gánh vác gánh nặng quốc gia, đó là biểu hiện sự ủy thác rất rõ trên phương diện chính trị.
Cũng thời Trần, bên cạnh hình tượng Trần Quốc Toản bóp nát trái cam thể hiện lòng hăng hái muốn tham gia đánh giặc từ tuổi thiếu niên thì Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn có thể được xem như một biểu tượng của sự trưởng thành. Có mặt trong cả ba lần đánh quân Nguyên-Mông xâm lược, từ trận đầu đến trận cuối cách nhau 30 năm. Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất (1258), ở tuổi 26, Trần Quốc Tuấn đã giữ chức Tiết chế chỉ huy một đạo quân. Đến lần thứ hai (1282) ông đã là Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn quân. Đến lần thứ ba (1288), khi đã trở thành vị lão tướng lập chiến công vang dội ở Bạch Đằng, ông mới 56 tuổi.
Đến thời cận hiện đại, từ giữa thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, sứ mệnh bao trùm lịch sử giai đoạn này là giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân Pháp thì lớp trẻ càng trở nên có vai trò quan trọng. Họ không những phải có sức đương đầu với sức mạnh thực dân mà còn phải có năng lực tiếp nhận cái mới của thời đại, trong đó có cả những giá trị văn minh từ quốc gia của kẻ xâm lược đưa đến. Vai trò lãnh đạo chuyển dần từ các sĩ phu già sang các nhà cách mạng trẻ tuổi đủ năng lực tiếp nhận những nhân tố mới của thời đại, trong đó có cả những lý luận về dân chủ và cách mạng...
* Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Bác Hồ là tấm gương của một vĩ nhân biết tập hợp và sử dụng người trẻ, người hiền. Câu nói của Người vẫn còn nguyên giá trị: “Một năm mới khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội…”. Ông có thể nói cách dùng người trẻ của Bác Hồ?
- Câu đó được nói ra khi Bác đã có tuổi, Bác muốn gửi gắm tầng lớp thanh niên những trải nghiệm của chính mình. Trong khi trả lời phỏng vấn nhà báo Xô-viết Ô-xip Man-đen-xtam (1924), Bác có nói đại ý rằng, ngay khi mới 13 tuổi đã có ý định đi sang Pháp để xem đằng sau cái lý tưởng cao đẹp Bình đẳng-Tự do-Bác ái, biểu trưng ba mầu của lá cờ tam tài, thực chất là cái gì? Khi rời bến cảng Sài Gòn bắt đầu cuộc đời hoạt động cách mạng thực sự, mới 21 tuổi (1911) và trở thành đảng viên cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, Người mới bước vào tuổi “tam thập nhi lập” (1920-1921). Đến khi đã trưởng thành và trở thành một nhà lãnh đạo, Bác luôn quan tâm gây dựng và phát triển lực lượng cách mạng vào lớp trẻ. Tên gọi tổ chức Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng, tờ báo “Thanh Niên”, tổ chức Thanh niên Cộng sản Đoàn với thế hệ như Lý Tự Trọng, Lý Quý (Trần Phú)... đều tập hợp những người rất trẻ.
Không chỉ tổ chức của Bác, có thể nói, hầu như ở thời đại ấy, giới trẻ thực sự đóng vai trò chủ lực. Phong trào Đông Du chiêu tập toàn những người trẻ tuổi khắp ba miền vượt biển sang học hỏi nước Nhật Duy Tân; Lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng Nguyễn Thái Học đến lúc hy sinh (1930) mới 26 tuổi. Những nhà yêu nước nổi tiếng khác như Phạm Hồng Thái, Đoàn Trần Nghiệp, hy sinh khi còn rất trẻ...
Trong khi đó lớp người già đầy uy tín như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, sau những bước thăng trầm cũng dần nhận thấy sự bất cập của mình sẵn lòng đặt lòng tin vào lớp kế cận. Trong bức thư viết cho Nguyễn Ái Quốc (1922), cụ Phan Chu Trinh tự nhận rằng mình như con ngựa già hết nước kiệu pha nước tế... cảnh phận như chim lồng cá chậu, cây già thì gió dễ lay, người già thì trí dễ lẫn, cảnh mình như hoa sắp tàn... và chân thành cho rằng, Nguyễn Ái Quốc với sức trẻ của mình “như cây đương lộc” dày công học hành, lý thuyết tinh thông... Cũng giống như Phan Bội Châu lúc này đang bị thực dân an trí ở Huế, các vị đều gửi gắm tương lai đất nước vào Nguyễn Ái Quốc. Cũng vì thế mà hai cụ Phan mãi mãi được lịch sử tôn vinh. Theo tôi, “nhân tài” trong quan niệm của Bác là “tài của con người”. Cái tài ấy ai cũng có, nhưng để hướng nó vào mục đích chung của đất nước, dân tộc thì phải biết dùng (phát hiện và huy động) cái tài ấy của mọi người một cách hiệu quả nhất. Nói cách khác là Bác trở về với cái nguyên lý cổ điển “dụng nhân như dụng mộc”. Đã nhiều lần Bác viết đại ý rằng ai cũng có cái tài riêng của mình, người lãnh đạo phải biết nhận ra và sử dụng cái tài ấy đúng lúc, đúng chỗ... Có thế mới huy động được đông đảo nhân dân vào sự nghiệp chung.
Xin đơn cử một thí dụ như trường hợp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông là một người được học hành đến nơi đến chốn, từng là một nhà báo, từng hoạt động xã hội trong phong trào Truyền bá Quốc ngữ. Bởi vậy, khi bước vào vận động cách mạng, Bác giao cho nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang nhưng lấy mục tiêu tuyên truyền chính trị là căn bản, nên đặt bí danh cho người phụ trách là “Văn” và tên gọi lực lượng võ trang là “tuyên truyền giải phóng quân”. Lúc cách mạng thành công, nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng Nhà nước thì Bác giao cho Anh Văn, một vị cử nhân luật làm Bộ trưởng Nội vụ, chức Bộ trưởng Quốc phòng thì giao cho người khác. Nhưng khi nhận ra chiến tranh là điều khó tránh thì vị đứng đầu Nhà nước lại giao cho vị Đại tướng tương lai chức Quân sự Ủy viên Hội (lo phần công tác chính trị) và khi chiến tranh bùng nổ thì giao làm Bộ trưởng Quốc phòng và cương vị Tổng Tư lệnh (thực quyền). Khi giao trách nhiệm chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ, Bác giao toàn quyền quyết định trực tiếp. Trung ương chỉ lo hậu cần và chỉ đạo các mặt trận phối hợp trên chiến trường toàn quốc.
Tôi nghĩ nếu chiến tranh không nổ ra thì chắc Anh Văn sẽ không phải cầm quân và nếu không có sự tin cậy giao toàn quyền ở Điện Biên Phủ thì sẽ không có một chiến thắng “chấn động địa cầu” và lịch sử sẽ không có một vị tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp. Tôi nghĩ, đó là một bài học lớn về cách dùng người nói chung, người trẻ nói riêng. Năm 1945, Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp mới 34 tuổi, được phong hàm Đại tướng (1948) mới 37 tuổi và lúc thắng ở Điện Biên Phủ (1954) mới 43 tuổi.
Còn một nét đặc sắc khác về “thuật” dùng người cả già lẫn trẻ, phần lớn là được đào tạo ở chế độ cũ, là những người thuộc tầng lớp trên (quan lại, trí thức cao cấp, nhân sĩ...) như các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn... các vị như Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Tôn Thất Tùng... Làm được như vậy, là do Bác có niềm tin sắt đá rằng mọi người dân Việt Nam đều có lòng yêu nước, có tinh thần dân tộc vượt lên trên cả quan điểm giai cấp thông thường.
* Sức trẻ đã ghi nên những trang sử dựng nước và giữ nước chói lọi như ông vừa nói. Vậy còn về sức trẻ trong công cuộc xây dựng đất nước hôm nay, thưa ông?
- Tôi muốn nhấn mạnh, cái quan trọng nhất là tuổi trẻ phải có năng lực tự thay đổi và tiếp cận cái mới.
Hiện nay, có mâu thuẫn là, người ta thường nói đến chính trị là chín muồi, là thận trọng, hay tích lũy thời gian kinh nghiệm, trong khi đó thực tiễn đời sống phát triển rất nhanh đôi khi khiến cho “sự chín muồi” trở nên bảo thủ, sự thận trọng làm mất cơ hội và kinh nghiệm trở thành lạc hậu. Theo tôi, trong thời đại ngày nay, chính trị là làm chủ được khoa học công nghệ, vì thế không thể không có tri thức và chỉ thực tiễn và ý chí thôi thì chưa đủ, phải học, phải được đào tạo một cách chính quy, bài bản. Ta có thể đưa ra những hiện tượng như Bill Gate hay nhiều nhà phát minh, làm ăn kinh tế đại tài mà không bằng cấp, chỉ là cá biệt... Số đông phải là nhân tài từ việc trau dồi kiến thức.
* Có nghĩa là, lớp trẻ cần phải phát huy và phải được giao phó nhiều hơn nữa khả dĩ có thể tạo lập những dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng đất nước?
- Sự chuyển giao thế hệ như thế nào là bài toán khó, nếu không qua một cuộc cách mạng về nhận thức. Làm sao để tạo ra một thế hệ đừng già trước tuổi, và trẻ trung ngay khi tuổi đã già với biểu hiện rõ nhất là luôn sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm. Cụ Nguyễn Công Trứ, suốt đời làm việc, làm mọi thứ việc mình muốn mà xã hội lại cần. Từ cầm vũ khí dẹp loạn đến khai hoang lập ấp, làm thủy lợi, rồi tuổi cao vẫn sáng tạo, vẫn mong mình trẻ mãi “ngũ thập niên tiền nhị thập tam” (50 năm trước mới 23 tuổi) mà lại được coi là tổ nghiệp ca trù, nay đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Vì biết dấn thân mà chấp nhận thăng trầm chốn quan trường, coi đó là thử thách của cuộc đời luôn phấn đấu. Vì thế mà Nguyễn Công Trứ chức quan đâu có cao mà được nhân dân và lịch sử nhớ mãi, chính là vì sức trẻ.
* Xin trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!
| Sự chuyển giao thế hệ như thế nào là bài toán khó, nếu không qua một cuộc cách mạng về nhận thức. Làm sao để tạo ra một thế hệ đừng già trước tuổi, và trẻ trung ngay khi tuổi đã già với biểu hiện rõ nhất là luôn sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm. |