Mưa trên đỉnh ngọn sầu

(Tiếp theo và hết)

Mưa trên đỉnh ngọn sầu

Mày nghe mẹ nói gì rồi chứ? Xéo ngay khỏi nhà tao”.

Cậu gọi đến cơ quan xin nghỉ buổi sáng. Mỗi câu đều có từ “vâng ạ” ở cuối, cậu “vâng ạ” cả với đứa chíp hôi thực tập ở cơ quan. “Vâng ạ” trở thành hai từ có mật độ xuất hiện dày nhất trong suốt quá trình sống của cậu. Nói chuyện với tổ trưởng dân phố: vâng ạ, với em bán cá: vâng ạ, với cháu bán rau: vâng ạ, với vợ: vâng ạ, với thằng bé đánh giày: vâng ạ, với sếp: vâng ạ, với cả chính cậu trong gương cậu cũng: vâng ạ. Quy ra thời gian dễ cậu mất đằng đẵng mười năm chỉ để nói “vâng ạ” với tất cả.

Dì lặng lẽ lên phòng thu dọn đồ đạc. Can xăng để trước cửa cậu định đổ hết xuống cống xong nghĩ tiếc của giời lại cho vào trong tủ bếp khóa lại. Mở tủ lạnh lấy lon bia và gói bim bim ăn dở của cái Tí ra ghế ngồi vừa xem ti-vi vừa uống. Nhấp ngụm lớn, mát lạnh, khà, hả hê vì vừa phá vỡ được một âm mưu khủng bố.

Mở tủ quần áo. Trong tủ có một trăm linh tám bộ quần áo đã may xong. Bộ may dở trong tâm tưởng sau thời gian gián đoạn ngắn ngủi đang được may tiếp. Số một trăm linh tám chỉ là ngẫu nhiên không liên quan đến tiểu thuyết Thủy Hử của La Quán Trung. Dì không thích xem phim, cũng không thích đọc, chỉ thích nghe tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn đọc qua đài. Nào thì Nửa chừng xuân, Đôi bạn, Gia đình, Lạnh lùng, Đoạn tuyệt, Thoát ly, Thừa tự… Yêu lắm những tình yêu trải qua sóng gió, trắc trở không đến được với nhau. Xót xa, đớn đau cùng nhân vật đấy mà cũng vui mừng, sung sướng khi nhân vật không hạnh phúc. Lõi của sự đớn đau tột cùng là khoái cảm dâng trào. Dì chờ đợi chương trình đọc truyện vào mười một giờ đêm, hôm nào cũng như hôm nào, đều như vắt chanh. Đúng giờ mở mắt, vặn đài, nghe, sụt sịt khóc, căm phẫn, kiến giải, tưởng tượng, trách cứ nhà văn, trách cứ nhân vật, nếu là dì thì thế này, nếu là dì thì thế kia… Tiếng nói của dì biến mất ban ngày thì giờ tái hiện ban đêm trong chuyến viễn hành vào miền đêm xa thăm thẳm chẳng bao giờ dứt. Chẳng cuốn tiểu thuyết nào có kết thúc, chỉ mở đầu vời vợi, diễn biến đêm này qua đêm khác. Chiếc áo tâm tưởng dùng chữ đính lên mình lóng lánh như kim tuyến.

Trong những ngày đài đọc truyện cổ điển Trung Quốc như Hồng lâu, Tây du, Tam quốc, Thủy hử,… hoặc chưởng của Kim Dung, Cổ Long, Lương Vũ Sinh,… dì vẫn đều đặn tỉnh đúng mười một giờ. Chỉ khác không bật đài mà chơi trò hóa thân nhân vật. Dì là Mai, Loan, Phán Lợi, An, Ngọc, Lan, Thân, Dũng, Nhung, Trương, Thu, Liên, Doãn, Thượng, Lộc,… Tất cả các nhân vật đều có trong dì, dì là họ, họ là dì, nam lẫn nữ, phản diện lẫn chính diện, độc ác lẫn thánh thiện. Dì chưa bao giờ là chính bản thân dì. Suy nghĩ nào cũng là tình huống đã xảy ra đâu đó. Nếu là Mai sẽ giải quyết cách này, An giải quyết cách kia, Trương ăn nói sao, Liên cười thế nào, Lan nheo mắt đáp trả, Lộc sẽ dùng hành động… Dì không đưa ra quyết định riêng mình. Các nhân vật họp bàn đưa ra quyết định. Trong cuộc họp cánh tay nào cũng giơ lên đòi phát biểu. Tiếng nói từ cái miệng nào cũng chính đáng, cũng cần phải lắng nghe. Mà ồn ã chẳng ai nghe. Cuộc họp tự hình thành cũng tự tan đi. Dì chẳng có tiếng nói trong cuộc họp, không có quyền hành nơi thiêng liêng thế.

Mọi thứ tưởng cứ thế cho đến tuổi bốn mốt thì dì nhận được thiếp mời đám cưới. Người mời đám cưới là một bạn nam ngồi cùng bàn thời cấp hai dưới quê. Có vài kỷ niệm tạm coi là đẹp, lãng mạn, chỉ có vậy, không hơn. Người bạn đó thích dì không? Dì không biết, ký ức luôn luôn phản bội lại thực tế diễn ra, khi mà nó được xây lên bằng cách chắp ghép các hiện thực của thực tại. Chẳng nắm tay lần nào, ánh mắt người bạn đó qua cặp kính chỉ thấy lóa trắng của ánh sáng. Thiệp cưới thơm mùi nước hoa. Dì đưa lên mũi hít hà. Khuôn mặt người đó hiện lên cùng một khuôn mặt khác không phải dì. Nếu khuôn mặt đó là dì, dì có hạnh phúc? Đúng lúc sắp xảy ra cuộc họp bàn giữa các nhân vật Tự lực để quyết định sao với thiếp mời thì dì nghĩ đến lửa. Các nhân vật chưa kịp ngồi vào bàn họp đã cháy rụi. Đồng thời nhân lúc cả nhà đi vắng lén ra cây xăng mua xăng về cất sâu trong tủ quần áo. Đêm trước khi thực hiện ý định đốt nhà dì ngủ một mạch từ tám giờ tối đến sáng, sau khi may xong tay áo cho một chiếc áo mới với màu vàng, xanh, tím, không thức dậy vào lúc mười một giờ để nghe đọc truyện qua đài, cũng không mơ gì đến các nhân vật.

Tủ quần áo vẫn ám mùi xăng dù can xăng đã mang đi.

Thiếp cưới màu hồng im lìm dưới đáy.

Hơn chín giờ một chút dì quyết định đi dự đám cưới. Trong tủ có một trăm linh tám cái áo dì phải chọn lấy một cái trong số đó. Chẳng cái nào vừa với thân người dì. Tất cả đều may từ số đo của người trong nhà. Hai đứa trẻ con thì bé quá, cậu thì to quá, chỉ có mợ là tạm được dù vòng một hơi quá cỡ. Cởi áo phông trắng mặc vào áo may với số đo của mợ. Soi gương, đằng trước là mảng bùng nhùng của tập hợp bảy sắc cầu vồng lẫn những màu cầu vồng không thể nhận sắc khi phải cưỡng che vật vốn không được sinh ra cho mình. Chiếc áo này là chiếc áo của mợ. Dù không mặc thì nó vẫn giữ nguyên ấn định từ lúc may ra cho đến lúc bị hủy đi. Dì là vật thay thế, vật thử, con rối của chiếc áo, phải hoạt động, điều chỉnh ý nghĩ theo đường may của áo. Sự phản bội là quá trình hình thành từ nhộng sang bướm. Nhộng là vải, còn áo là bướm. Từ lúc bắt đầu may (nhộng), buộc phải dấn vào quyết định phản bội. Dì có quyền quyết định phản bội lẫn hứng chịu phản bội. May áo hoặc không may, không may thì không có gì xảy ra. Còn may, quyết định lẫn hứng chịu luôn luôn đồng hành với nhau không thể tách rời cái nào với cái nào. Một trăm linh tám chiếc áo là một trăm linh tám phản bội. Thân người, may đo, số liệu trước sau là bước đầu tiên của phản bội khi nó không là thân thể dì, sinh ra vì dì. Theo số liệu đó mà chắp các mảnh vải lại là bước thứ hai. May hoàn thành là bước thứ ba. Người được đo may thử lại áo là bước thứ tư. Dù không có bước thứ tư thì quá trình phản bội cũng vẫn được định đoạt kết thúc. Chiếc áo không phải dành cho dì, nó cười nhạo những ngón tay thon dài xanh muốt, chỉ màu và đôi mắt chăm chú dõi qua từng đường kim. Càng đi về cuối các bước (sang bướm) sự chán nản càng gia tăng. Dù vậy không thể dừng lại được nữa, mang trong mình khát khao sáng tạo dì mong thấy một hình hài ra đời. Phản bội mang tính ấn định cố tránh cũng không được. Nhét áo may xong vào trong tủ, cánh bướm bay đi, chuẩn bị sẵn sàng cho một phản bội mới. Thỉnh thoảng vào ngày nắng lấy phản bội cũ ra ngắm nghía, giặt giũ, phơi phóng, gặm nhấm một vài niềm nhớ xa lơ lắc. Thường tốn một túi bột giặt năm phẩy năm ki-lô-gam và một lọ nước xả vải đậm đặc bốn lít.

Đám cưới dì đi dự tổ chức trên tầng hai, tầng một còn đám cưới khác, tên chú rể lẫn với tên diễn viên Hồng Kông vừa dính scandal sex tự quay, tự diễn. Vài người đọc tên chú rể thường nén nhìn sang tên cô dâu, tên cô dâu giống với tên nhân vật ngây thơ trong Số đỏ. Chẳng hiểu sao lại có sự kết hợp kỳ lạ thế?

Khách mời thường xuyên vào nhầm vì bảng chỉ dẫn không có dấu chỉ lên. Mừng nhầm thì tuyệt nhiên không vì trước khi mừng kiểu gì cũng có màn đối chiếu tên trên thiếp mời và tên trên sân khấu trong phòng, tên cô dâu, tên chú rể phải đúng, đủ mới an tâm hành động, sai một ly đi một dặm, các cụ dạy từ xưa đến giờ cấm bỏ đi chữ nào. Dì cầm phong bì lên tầng hai. Chú rể đứng cạnh cô dâu. Bố mẹ chú rể đứng cạnh bố mẹ cô dâu, thỉnh thoảng lại đổi chỗ cho nhau, bố chú rể và mẹ cô dâu, bố cô dâu và mẹ chú rể ở ngay cửa ra vào tươi cười đón khách. Cạnh cô dâu là hộp trái tim đỏ ối dán chi chít logo song hỷ, ở giữa có khe đút tiền đủ để phong bì dù có gập tám vẫn chui vào dễ dàng. Chú rể tóc vuốt keo bóng nhoáng, ngược đằng sau, một tay gập ngang co lại trước ngực, tay kia duỗi thẳng để tay cô dâu bám vào, gặp ai vào cũng cúi người lịch thiệp. Cô dâu mặc váy trắng muốt, xếp tầng, buông dài gót chân, trên đầu cài vương miện như người mẫu đăng quang.

Dì tiến vào, dứt khoát đút tiền vào hộp. Cô dâu chào, mỉm cười che tay. Chú rể lịch thiệp gập người. Dì nhìn chằm chằm vào mặt chú rể mong tìm lại hình bóng của người ngày xưa ngồi cạnh mấy năm liền. Cần có mối liên hệ thân quen, dù nhỏ, để đặt hình ảnh chú rể vào khung cảnh dì đã bố trí, tưởng tượng trên đường tới đây. Từ sự thân quen này sẽ dẫn đến sự thân quen khác. Dì biết được nơi mình đến, đi trong chuỗi ngày sắp tới. Lời nói của cậu vẫn còn đọng lại trong trí óc xưa thế nào cũng vẫn còn vệt mờ. “Mày đừng về cái nhà này nữa. Đi đâu thì đi. Nhà tao không chứa đứa giết người trong nhà. Tao cho mày ba trăm năm mươi hai nghìn, thừa tiền cho mày về quê đấy. Tình nghĩa anh em mình chỉ thế thôi. Đừng trách gì tao, có trách thì trách mày đốt nhà.” Dì nhận tiền, đi, đến đầu ngõ lấy ra một nghìn vào quán tạp hóa mua được năm cái phong bì, năm mươi nghìn đi xe tắc-xi, còn lại ba trăm linh một nghìn dì bỏ vào trong phong bì mừng.

Chú rể ngại ngùng quay sang cô dâu. Dì dứt khoát tìm được dấu hiệu của hình bóng ngày xưa dù có chết ngay đây. Dì tiến sang hướng chú rể đang nhìn. Chú rể không thể tránh nữa trước ánh mắt nghi ngờ nơi cô dâu.

“Xin lỗi, bạn là…”?

Chiếc áo trong tâm tưởng đang may phần cổ, hoàn thành nó sẽ là chiếc áo hoàn chỉnh nhất mà dì từng may.

“Áo chị đẹp quá”.

Dì đưa thiếp mời trong tay ra, chú rể chưa kịp cầm cô dâu đã giằng lấy mở ra đọc to cho mọi người cùng nghe. “Trân Trọng Kính Mời: Bạn cùng gia đình tới dự bữa cơm thân mật của hai chúng tôi. Vũ Quang A và Nguyễn Thị B. Tiệc cưới được tổ chức vào hồi 10 giờ 30 phút. Thứ ba…” Ngừng. Vui mừng thông báo.

“Chị ơi chị nhầm rồi. Địa điểm cưới đúng là ở đây. Nhưng tên cô dâu, chú rể khác. Ngày tháng là ngày tháng của tháng trước”.

Không phải là người bạn nam năm xưa. Vậy cái tên kia phải là một cái tên xa lạ với dì. Vậy sao dì lại áp đặt cho nó một sự thân quen, gần gũi thế mà không một mảy may nghi ngờ? Các hồi ức, kỷ niệm ào ạt kéo đến nữa, về bờ đê, con diều, dòng sông, tất cả đều sống động, có sức thuyết phục lạ lùng. Ai mà ngờ được cuối cùng chúng có thể chưa từng diễn ra. Sự thật bên trong là bao nhiêu phần trăm chỉ có thời gian là có thể kiểm chứng. Mà thời gian thì mênh mông cuốn có quay ngược lại được đâu.

Giật phắt lại tờ thiếp mời. Khách hiếu kỳ vây quanh. Chú rể hồ hởi mời mọi người vào trong phòng ổn định chỗ ngồi đợi đến giờ bắt đầu. Cô dâu nhìn dì, nhìn hộp tiền mừng, điểm nhìn di chuyển nhanh liên tục qua hai điểm. Dì xé tan tờ thiếp tung lên làm hoa, quay mặt đi ngược trở lại xuống cầu thang. Cô dâu, chú rể thở phào nhẹ nhõm. Coi như một người mừng mà không đến ăn.

“Con mụ điên. Ăn mặc đến kinh.”

“Sao vừa em khen đẹp?”.

“Xã giao thôi. Chỉ sợ nó lăn ra đây đòi lại tiền mừng thì chết. Khách khứa đông vợ chồng mình có mà dơ mặt, mở hòm ra cũng chẳng biết cái nào vào cái nào. Mụ có khi còn chẳng nhớ tên mình”.

Dì ở phòng 26, truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn Nga Chekhov là phòng số 6. Phòng bốn người, dì nằm giường trong cùng nhìn ra sau núi. Thỉnh thoảng mười một giờ đêm dì vẫn theo thói quen ở nhà giật mình thức giấc, rồi chẳng nhớ mình thức giấc làm gì lại ngủ thiếp đi. Công việc chính của dì vẫn là may quần áo. Chỉ khác quần áo của dì may giờ đã có người mặc. Người ta xếp hàng chờ dì may quần áo, ngày ngày qua hỏi may xong chưa để thử, trả công bằng hoa dâm bụt, chuồn chuồn ngắt cánh, kiến đựng trong vỏ kẹo, nước mưa đựng trong cốc nhựa uống vào trường sinh bất tử… Sự phản bội vẫn còn nhưng đã bớt mệt mỏi hơn bởi những chiếc áo không còn nằm im lìm trong tủ với nhiều đôi mắt chết.

Một trăm linh tám chiếc áo trong tủ cậu gói cả gửi vào cho dì nhưng ai nhìn thấy cũng sợ hãi chẳng dám lại gần chứ chưa nói mặc vào. Dì nhìn số áo dửng dưng, xin người ta vứt chúng đi khỏi chật. Một trăm linh tám chiếc áo phản đối bảo còn chiếc áo trong tâm tưởng dì đang may thì sao? Chiếc áo dì đặt tên là “Im lặng” dì chợt nhớ ra chiếc áo mình đã may từ ngày xưa, dỡ ra may lại bao nhiêu lần mà vẫn chưa hoàn chỉnh. Lần hoàn chỉnh nhất là khi may xong cổ nhưng chưa đính cúc, may túi, là lại. Chiếc áo ấy đi đâu? Dù chỉ còn các mảnh vải vụn thì cũng phải có dấu vết chứ.

Dì suy nghĩ nhiều ngày nhiều đêm, bỏ cả ăn ngủ, gầy tọp đi trông thấy, hai mắt trũng sâu, quầng thâm, gân xanh ở cổ nổi chằng chịt. Vừa phải suy nghĩ vừa phải đo, cắt, may. Vải vụn được người ta lấy về ngày càng nhiều, chất cao một góc phòng, hai người cùng phòng được dọn sang phòng khác lấy chỗ đặt máy khâu, chứa vải. Ngày ngày, từ sáng sớm hàng người đã đứng trước cửa phòng chờ được đo, may, hỏi xem áo của mình được chưa? Chiếc áo trong tâm tưởng dì may cho dì đi đâu? Ai vào đo cũng hỏi mà chẳng ai trả lời được, cũng buồn rầu vì không có câu trả lời cho dì.

Đã có một chiếc áo?

Hay không có?

Mà có khi không có thật, tưởng thế thôi.

Vào một sáng tháng mười mưa phùn phủ trắng núi, dì tìm được câu trả lời cho câu hỏi của mình. Rúc đầu trong chăn tự thưởng một ngày nghỉ không nghĩ đến may đo sau mấy chục năm đằng đẵng. Phía ngoài là mưa và hàng người đang dần hình thành. Phía ngoài nữa là một trăm linh tám chiếc áo đang bay về phía cũ.