Các nhà văn trong đoàn công tác của tàu hải quân được phép ở lại qua đêm trên đảo để thâm nhập thực tế. Phải hai tiếng nữa mới đến chương trình giao lưu văn nghệ. Chúng tôi thong thả ngồi trên kè sóng nhìn ra biển. Đầu tháng 5, biển yên tĩnh lạ lùng. Thật khó hình dung đây lại chính là nơi hình thành những cơn bão biển dữ dội, trước khi đổ bộ vào đất liền.
Tôi chợt nảy ý định muốn tắm biển. Ngỏ lời với mấy chàng lính trẻ đang bồng súng đi tuần, ngay lập tức nhận được những cái lắc đầu nhè nhẹ, nhưng kiên quyết: “Chỉ huy bảo, không được đâu ạ!”. Xung quanh đảo có những công trình phòng thủ quân sự, hẳn vậy, người lạ không được phép tiếp cận. Nài nỉ thêm, chỉ làm khó cho những chiến sĩ đang thực thi nhiệm vụ. Tuy vậy, không hiểu sao, trong tôi vẫn trào lên một ham muốn mãnh liệt được xuống biển. Tại sao không, đảo của ta, biển của ta, được tắm mình trong làn nước trong vắt kia, chẳng phải là một trải nghiệm suốt đời không quên sao? Nghề viết cho chúng tôi thói quen khi tiếp cận nguồn tin, càng khó khăn, càng không lùi bước. Tôi quyết định tiếp tục thử vận may khi trông thấy một chiến sĩ hải quân cứng tuổi, nét mặt dày dạn, ra dáng cán bộ. Anh im lặng nhìn tôi từ đầu đến chân rồi hỏi: “Đồng chí ở đơn vị nào?” - “Chúng tôi là nhà văn. Đang chờ giao lưu với chiến sĩ”. - “Sao lại muốn tắm biển?” - “Vì đây là biển của mình mà...” Anh cân nhắc một chút rồi ngoắc tay ra dấu cho tôi đi theo.
Tác giả (ngoài cùng bên phải) với lính đảo Trường Sa. Ảnh: Quang Hưng
Chúng tôi trở lại khu vực doanh trại, anh cán bộ rút từ trên dây phơi xuống một chiếc quần đùi bộ đội bảo mặc vào. Bản thân anh cũng trút bỏ quân phục, phô ra thân hình vạm vỡ, làn da nâu bóng. Xuất hiện thêm hai lính trẻ, tủm tỉm cười đi theo chúng tôi. Về sau tôi mới biết, họ có nhiệm vụ “hộ tống” và bảo vệ cái “ông nhà văn” có nguyện vọng khác thường này. Một thành viên trong đoàn chúng tôi, thầy giáo - dịch giả trẻ Nguyễn Vũ Hưng vừa đi đánh bóng chuyền với chiến sĩ về, thấy thế thích quá, xin đi cùng luôn.
Chúng tôi dò dẫm từng bước, mặc những mảnh san hô cứa vào chân đau nhói. Có gì như vẫy gọi, như nghẹn ngào rất khó nói thành lời, giục ta ào xuống biển. Nước biển ấm và mặn. Chúng tôi thỏa thê vùng vẫy, đùa vui. Lúc thì lặn xuống, căng mắt háo hức nhìn đáy biển. Lúc thì ngửa mặt lên trời ngắm những đụn mây vàng rực rỡ đang sắp đi vào tối, và hét lên phấn khích “A... a.... a...!” Cách đất liền hơn ba trăm hải lý, đây trời của ta, đây biển của ta.
Nữ nhà báo Quỳnh Hậu (đoàn Vũng Tàu) từ đâu lò dò đi tới. Khi phát hiện ra cái đám đang vẫy vùng thỏa thích như lũ trẻ con kia chính là chúng tôi thì chị dậm chân tiếc hùi hụi vì đã không mang theo đồ tắm biển. Chúng tôi khệnh khạng bước lên bờ trong tư thế những người hùng trước ánh mắt ghen tị của nữ đồng nghiệp. Anh cán bộ bảo, đi tắm tráng nước ngọt nhé. Lúc đó tôi đã có một sự tưởng tượng đáng xấu hổ của người thành phố, khi nghĩ đến cảm giác khoan khoái đứng dưới vòi nước hoa sen ào ào xối lên người. Thực tế thì chúng tôi được đưa đến bên bể nước được chăm chút rất cẩn thận. Anh cán bộ chỉ cho tôi đứng vào trong một chiếc chậu nhôm và nói: “Tiêu chuẩn mỗi người chỉ một gầu, nhưng các anh là khách nên được ưu tiên hai”. Tôi toan đỡ lấy gầu nước thì anh ngăn lại, bảo các anh không biết tắm đâu, để chúng tôi giúp. Một chiến sĩ thận trọng “tưới” nước lên đầu cho tôi, sao cho dòng nước ấy phủ khắp thân hình và không ra ngoài phạm vi cái chậu. Chiến sĩ khác nhanh nhẹn thoa dầu gội đầu, giục tôi tự bới tóc. Hết gầu nước thứ nhất mới sạch phần đầu. Gầu nước thứ hai để tắm người, nhưng vì tôi chưa quen, lóng ngóng thế nào mà nước hết nhưng người vẫn còn loang lổ bọt xà-phòng. Anh cán bộ thương hại nhìn tôi, miễn cưỡng nói: “Thôi, người Việt mình vẫn có truyền thống bóp mồm bóp miệng đãi khách, các chú ưu tiên cho anh nhà văn... nửa gầu nữa!”. Nguyễn Vũ Hưng thì xuýt xoa: “Đã thiệt! Có hàng trăm đô-la bây giờ cũng chẳng ai được tắm thế này!”.
Sau khi mặc xong quần áo, áy náy quá, tôi xin phép đi giặt cái quần đùi lúc nãy mượn xuống tắm biển. Một lần nữa, anh cán bộ ngăn lại: “Anh không biết giặt đâu. Việc này thì cả tôi cũng không biết! Chỉ có những chú lính kia mới biết cách giặt sạch mà tốn ít nước nhất!”.
Nhìn sang bên, mấy lính trẻ đang thận trọng đổ nước thải đục ngầu xà-phòng từ trong chậu vào những chiếc can nhựa. Tôi ngạc nhiên hỏi, để làm gì? Anh cán bộ mỉm cười: “Chăn nuôi, tưới cây, giặt giũ... Trên đảo, không có một giọt nước nào được phép bỏ đi cả!...”.
Đêm giao lưu hôm ấy chúng tôi ứa nước mắt khi biết, đã hơn ba tháng nay trời không mưa. Đảo Sơn Ca không có nguồn nước ngọt nào ngoài trông đợi vào ông giời mưa xuống. Những lúc khan hiếm nước, tiêu chuẩn của lính đảo chỉ từ 2-3 lít mỗi ngày, tức là tương đương với một gầu nước mà họ đã tắm cho chúng tôi. Tôi chợt hiểu ra sự cân nhắc khi họ nghe lời đề nghị xuống biển của tôi. Thì ra, cho phép chúng tôi tắm biển không khó, mà việc “tắm tráng” bằng nước ngọt mới thật sự là một quyết định khó khăn. Đây chính là bữa đại tiệc hoành tráng nhất mà những người lính hải quân đã lặng lẽ dành cho chúng tôi ở thời điểm khan hiếm nước nhất trên đảo.
Cũng trong đêm giao lưu ấy, anh cán bộ đã lên hát bài Mưa Trường Sa:
Mưa! Trời mưa! Á ha, trời mưa!
Từng bàn tay với lên trời cao,
Vuốt trên mặt người thấm từng giọt mưa lẫn dòng nước mắt.
Mưa! Trời mưa! Á ha, trời mưa!
Từng đôi chân bay qua chiến hào thoáng giây ngập ngừng
giữa thềm san hô đón dòng nước ngọt...
Mưa đi, mưa đi, đảo nhỏ chờ mưa!
Mưa đi, mưa đi, chúng tôi cần mưa!...
Nghe mà muốn trào nước mắt ân hận vì nguyện vọng bồng bột của mình, vì sự hào phóng của những người lính và bất chợt, một điều gì đó thật thân thương chạy như luồng điện trong tim.
Chỉ đến khi đó, tôi mới biết tên anh là Nguyễn Tất Thu, trung tá, chính trị viên cụm chiến đấu số 1 của đảo Sơn Ca.
| Trên đảo, không có một giọt nước nào được phép bỏ đi cả! Thì ra, cho phép chúng tôi tắm biển không khó, mà việc “tắm tráng” bằng nước ngọt mới thật sự là một quyết định khó khăn. |