Mở cánh cửa tương lai cho học sinh vùng biên (kỳ 2)

Kỳ 2: Thu hẹp khoảng cách giáo dục

Học sinh A Lưới chào đón sự kiện khánh thành trường PTNT liên cấp và khai giảng năm học mới 2026-2027.
Học sinh A Lưới chào đón sự kiện khánh thành trường PTNT liên cấp và khai giảng năm học mới 2026-2027.

Khi năm học 2026-2027 bắt đầu, cũng là thời điểm những trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đủ điều kiện được khánh thành, bàn giao và đưa vào sử dụng. Cùng với lớp học, học sinh vùng biên sẽ có thêm nơi ăn, ở, phòng máy tính, ngoại ngữ, STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học), thư viện và những điều kiện học tập hiện đại hơn.

Khoảng cách về điều kiện thụ hưởng giáo dục vì thế từng bước được thu hẹp. Công bằng không phải là chia đều nguồn lực, mà là trao thêm cơ hội cho những nơi còn nhiều bất lợi.

Một ngôi trường mở thêm những cơ hội

Buổi sáng đầu năm học ở Trường phổ thông nội trú (PTNT) TH và THCS Bình Liêu (xã Bình Liêu, TP Quảng Ninh), tiếng học sinh vang lên trong những dãy nhà mới. Không gian học tập đã khác xa hình dung về một ngôi trường miền núi vốn chỉ có những phòng học và khu nội trú đơn sơ. Trường có nhà học ba tầng, nhà học bộ môn hai tầng, khu ký túc xá và các công trình phục vụ học tập, sinh hoạt.

Trong thư viện có phòng máy tính với 10 máy để học sinh tra cứu tài liệu, đọc sách trực tuyến và học tập. Các phòng mỹ thuật, âm nhạc, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội tạo thêm những không gian để việc học không chỉ diễn ra trong một căn phòng với bảng và phấn. Khu thể chất có sân bóng đá, bể bơi và sân thể chất đa năng.

Những hạng mục ấy làm thay đổi khá nhiều đời sống học đường. Quan niệm về trường vùng biên vì thế cũng thay đổi. Không chỉ có lớp học, mà là học sinh được học gì, trong điều kiện nào và cần có cơ hội để phát triển. Công bằng giáo dục không chỉ là bảo đảm một chỗ ngồi, mà là để trẻ vùng biên cũng được tiếp cận những điều kiện học tập và cơ hội phát triển như học sinh ở nơi thuận lợi hơn.

Cô Ngô Thị Thanh Ninh, Hiệu trưởng Trường PTNT TH và THCS Bình Liêu chia sẻ, thay đổi ấy còn nằm ở cách tổ chức cuộc sống học đường. Những em ở xa có thể ở lại trường; bữa ăn, chỗ ngủ, giờ tự học và các hoạt động sau giờ lên lớp được tổ chức trong cùng một môi trường.

Hiện, học sinh ở xa nhất của trường là em Trì Thị Tâm (người dân tộc Dao), năm nay lên lớp 8, ở bản Khe Tiền, cách trường hơn 10 km. Hoàn cảnh gia đình em rất khó khăn. Bố đã mất, em hiện sinh sống cùng mẹ, dượng và một em trai. “Ở trường em học rất chăm và đạt kết quả tốt. Nếu được ở bán trú, Tâm sẽ không phải đi lại quãng đường xa như vậy mỗi ngày, được thầy cô chăm lo và có thêm thời gian học tập”, cô Ninh nói.

Đó cũng là thay đổi đang diễn ra ở những vùng biên khác.

Với học sinh nội trú tại Trường PTNT TH và THCS Si Pa Phìn (xã Si Pa Phìn, tỉnh Điện Biên), những giờ học STEM luôn được các em mong chờ. Lần đầu được tự tay lắp một con robot, điều khiển nó bằng máy tính bảng, rồi tìm cách để nó không va vào vật cản. Những giờ học như vậy khiến công nghệ trở nên gần gũi hơn với những đứa trẻ vốn sống giữa núi rừng.

Đây là ngôi trường PTNT vùng biên đầu tiên của cả nước được khánh thành vào đầu năm 2026. Ngôi trường có 31 phòng học, hệ thống phòng học bộ môn, khu nội trú, nhà đa năng, thư viện, bể bơi, sân thể thao đồng bộ, phục vụ hơn 1.000 học sinh. Phòng STEM và AI được trang bị các bộ Robotics, thiết bị lập trình, camera, micro và hệ thống phần cứng phục vụ học AI. Từ tháng 3/2026, giáo viên nòng cốt của trường đã được chuyên gia công nghệ tập huấn để có thể đưa những thiết bị ấy vào giờ học.

Ở ngôi trường mới này, công bằng giáo dục được nhìn từ góc độ khác: Cơ hội tiếp cận công nghệ. Em Lừu Hoản Thè (dân tộc H'Mông), học sinh lớp 6A1, còn rụt rè: “Được tự tay lắp ráp rồi cho robot chạy, em thấy rất thích. Em muốn được học thêm để biết vì sao nó làm được như vậy!”. Với niềm đam mê và sự hướng dẫn của các thầy cô, em Lừu Hoản Thè và Lò Thị Long Nhi (dân tộc Thái), học sinh lớp 8A1, đã cùng tạo ra “Thiết bị học tập số cho phân môn Hình học lớp 6”, một sản phẩm tham dự Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu niên, nhi đồng năm 2026 của xã Si Pa Phìn.

Thầy Nguyễn Văn Dúp, Hiệu trưởng nhà trường nói: “Nếu học sinh ở thành phố có cơ hội làm quen với robotics, AI và những phương thức học tập dựa trên công nghệ, thì học sinh vùng cao cũng cần được trao cơ hội tương tự. Bởi khoảng cách số nếu không được thu hẹp từ trường học sẽ rất dễ trở thành khoảng cách về năng lực và cơ hội nghề nghiệp sau này”.

Với A Lưới (TP Huế), sự thay đổi của mô hình trường PTNT mới đang được người dân nhìn thấy từ những điều trước đây khá xa lạ với học sinh vùng núi. Ông Tiến, một cựu giáo chức ở địa phương, sau khi bước vào Trường A Lưới 3 đặc biệt chú ý đến sân thể thao, nhà thể thao đa năng, khu phòng ở riêng cho học sinh nam và nữ. Ông hình dung sau giờ học, thay vì trở về nhà với những công việc của gia đình, học sinh có thể chơi thể thao, chăm sóc cây cối, sinh hoạt cùng bạn bè.

Nhìn từ đó, công bằng giáo dục không chỉ là giúp một đứa trẻ vùng biên có lớp học để đến, mà còn là để em có một đời sống học đường đủ đầy như những học sinh ở nơi thuận lợi hơn: Có thời gian học tập, nghỉ ngơi, vận động, vui chơi và được chăm sóc trong một môi trường an toàn.

162.jpg
Trường PTNT TH và THCS A Lưới 3 khánh thành dịp khai giảng năm học 2026-2027.

Từ được đi học đến được học tốt hơn

Nếu chỉ giải quyết việc đi học, công bằng giáo dục vẫn chưa trọn vẹn. Khi chương trình giáo dục ngày càng yêu cầu học sinh có năng lực số, ngoại ngữ, tư duy khoa học, khả năng hợp tác và giải quyết vấn đề, khoảng cách về thiết bị và môi trường học tập có thể trở thành một khoảng cách mới.

Bởi vậy, diện mạo mới của trường vùng biên cần được nhìn từ bên trong những căn phòng. Những thiết bị được đầu tư chỉ có ý nghĩa khi học sinh được sử dụng, giáo viên đủ khả năng khai thác và các hoạt động dạy học được tổ chức phù hợp.

Ông Đinh Ngọc Sơn, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) TP Quảng Ninh cho rằng: “Việc xây dựng trường PTNT không chỉ giải quyết bài toán trường, lớp mà còn nhằm nâng chất lượng và điều kiện thụ hưởng giáo dục ở vùng biên; từng bước thu hẹp khoảng cách về điều kiện và cơ hội tiếp cận giáo dục giữa khu vực biên giới với những nơi phát triển hơn”.

“Điều quan trọng là phải khai thác hiệu quả, chuyển nguồn lực đầu tư thành chất lượng giáo dục. Các trường cần tổ chức các chủ đề, dự án STEM, nghiên cứu khoa học, hoạt động trải nghiệm; giáo viên được bồi dưỡng năng lực số, kỹ năng khai thác thiết bị và tổ chức dạy học theo hướng thực hành”, ông Nguyễn Tân, Giám đốc Sở GD&ĐT thành phố Huế cũng nhìn nhận đầu tư cơ sở vật chất mới chỉ là điều kiện ban đầu.

Điều đó đặt ra một yêu cầu rất thực tế: Thiết bị được đầu tư phải đi vào giờ học. Một phòng máy cần được sử dụng thường xuyên; thư viện cần trở thành nơi học sinh tìm đến; các phòng học bộ môn cần có những giờ thực hành, trải nghiệm. Công bằng về cơ sở vật chất vì thế phải đi cùng khả năng khai thác những điều kiện ấy.

Ở Lạng Sơn, bài toán công bằng được nhìn từ nhiều phía. Ông Hoàng Quốc Tuấn, Giám đốc Sở GD&ĐT cho biết, tỉnh thực hiện đầy đủ các chính sách dành cho học sinh nội trú, bán trú và học sinh vùng biên khó khăn; ưu tiên lựa chọn giáo viên, cán bộ quản lý có năng lực đến vùng khó, đồng thời huy động nguồn lực thực hiện phong trào “ba đủ” - đủ ăn, đủ sách vở, đủ trang phục.

Đó là cách bù đắp những thiếu hụt cơ bản để một đứa trẻ có thể học tập. Nhưng thực tế cũng cho thấy còn những khoảng cách cần tiếp tục thu hẹp. Lạng Sơn hiện thiếu hơn 2.000 viên chức ngành giáo dục, trong đó thiếu hơn 1.400 giáo viên. Tỷ lệ kiên cố hóa trường lớp mới đạt khoảng 81%, một số trường xuống cấp, thậm chí còn phòng học tạm.

Những con số ấy cho thấy, xây trường mới là một bước tiến nhưng chưa phải điểm kết thúc. Cơ sở vật chất cần được đặt cùng với đội ngũ và các chính sách hỗ trợ.

Lạng Sơn hiện có 100% học sinh tiểu học và 90% học sinh THCS được học hai buổi/ngày. Tin học được đưa vào giảng dạy bắt buộc từ lớp 3; học sinh tham gia phong trào “Bình dân học vụ số”, từng bước hình thành năng lực số và lan tỏa kiến thức công nghệ tới gia đình, cộng đồng. Từ đây, câu chuyện công bằng được mở rộng, học sinh vùng biên được tiếp cận những năng lực mà thời đại mới đòi hỏi.

Nhìn nhận về vấn đề này, ông Nguyễn Tân đánh giá: “Công bằng không có nghĩa là đầu tư như nhau ở mọi nơi, mà là bảo đảm mọi học sinh đều có cơ hội tiếp cận nền giáo dục có chất lượng; những địa bàn còn khó khăn cần được ưu tiên nguồn lực để từng bước thu hẹp khoảng cách về điều kiện học tập và cơ hội phát triển”.

Quảng Ninh cũng nhìn những ngôi trường mới trong một tầm nhìn dài hơn một năm học. Theo ông Đinh Ngọc Sơn, mục tiêu của việc đầu tư là từng bước thu hẹp khoảng cách về điều kiện và cơ hội tiếp cận giáo dục giữa vùng biên với các khu vực phát triển hơn.

Đó cũng là tinh thần Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh khi nói về những ngôi trường mới: “Trường học không chỉ là nơi dạy và học mà phải thật sự trở thành “ngôi nhà thứ hai” của học sinh, bảo đảm tốt các điều kiện ăn, ở, sinh hoạt, vệ sinh và an toàn thực phẩm; đồng thời góp phần bảo đảm quyền được đến trường của mọi trẻ em một cách bình đẳng, công bằng”.

Nhưng thu hẹp khoảng cách giáo dục mới chỉ là bước đầu; điều quan trọng hơn là những cơ hội ấy sẽ tạo nên một thế hệ nhân lực như thế nào cho tương lai tại chính vùng biên ải.

(Còn nữa)

Mở cánh cửa tương lai cho học sinh vùng biên (kỳ 1)