Khép kín chuỗi đào tạo

Sáng 25/8, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với các cơ quan liên quan đánh giá kết quả một năm triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Tư vấn cho sinh viên các nghành học về công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: NAM HẢI
Tư vấn cho sinh viên các nghành học về công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: NAM HẢI

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt yêu cầu với giáo dục đại học: “Phải hình thành cho được chuỗi liên kết: Dự báo nhu cầu nhân lực - tuyển sinh - đào tạo - nghiên cứu - doanh nghiệp - việc làm”. Điều đó đòi hỏi trường đại học không chỉ đào tạo người học đến ngày nhận bằng, mà phải tham gia vào cả quá trình chuẩn bị nguồn nhân lực cho nền kinh tế tương lai.

Dự báo để tuyển sinh không chạy theo “sóng”

Trong nhiều mùa tuyển sinh, khi một thí sinh lựa chọn ngành học, phụ huynh thường bắt đầu từ những câu hỏi: Ngành nào đang “hot”, điểm chuẩn ngành nào cao, ngành nào được nhiều em lựa chọn? Nhưng theo các chuyên gia, nếu chỉ nhìn vào sức hút của một ngành ở thời điểm hiện tại để quyết định quy mô tuyển sinh, giáo dục rất dễ chạy sau thị trường.

Đơn cử, một thời gian dài, nhóm ngành kinh tế, kinh doanh được đông đảo thí sinh lựa chọn. Năm 2019, các ngành kinh tế, kinh doanh chiếm khoảng 32% tổng số hồ sơ đăng ký dự thi và có tỷ lệ cạnh tranh 6,5 nguyện vọng/chỉ tiêu, thuộc nhóm cao. Khi ấy, nhu cầu nhân lực trong khu vực dịch vụ, tài chính, ngân hàng, thương mại, quản trị doanh nghiệp… tăng nhanh, khiến tâm lý “học kinh tế dễ tìm việc” ngày càng phổ biến.

Sức hút đó tạo thành một vòng tròn: Ngành được nhiều thí sinh lựa chọn, các trường mở rộng quy mô, số lượng người học tăng và nguồn cung cử nhân tiếp tục lớn. Nhưng khi thị trường thay đổi, một bộ phận sinh viên ra trường sẽ phải cạnh tranh gay gắt hơn để tìm việc đúng chuyên môn, làm trái ngành hoặc chấp nhận vị trí chưa tương xứng với trình độ.

Thị trường lao động cuối năm 2025 cho thấy một nghịch lý đáng chú ý: Vẫn có một bộ phận lớn người trẻ khó tìm được việc làm phù hợp, trong khi nhiều lĩnh vực mới lại thiếu nhân lực. Quý IV/2025, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi là 9,04%; khoảng 1,4 triệu thanh niên không có việc làm, không học tập hoặc không tham gia đào tạo. Trong khi đó, các báo cáo thị trường năm 2025 ước tính Việt Nam có khoảng 530.000 lao động công nghệ thông tin (CNTT), trong khi nhu cầu khoảng 650.000 người.

Hai con số này không mâu thuẫn mà cho thấy một vấn đề sâu hơn: Thị trường có thể vừa thừa người tìm việc, vừa thiếu người mà doanh nghiệp cần. Cái thiếu không đơn thuần là số lượng lao động, mà là cơ cấu và chất lượng nhân lực. Doanh nghiệp công nghệ không chỉ cần thêm người có bằng CNTT mà cần nhân lực có năng lực về AI, dữ liệu, an ninh mạng, điện toán đám mây… Với bán dẫn, Việt Nam đặt mục tiêu đào tạo 50.000 kỹ sư, cử nhân đến năm 2030, trong khi nhu cầu được ước tính khoảng 5.000-10.000 người mỗi năm và khả năng đáp ứng hiện còn thấp.

Khoảng cách ấy cho thấy dự báo nhân lực không thể đứng sau tuyển sinh. Nếu chỉ dựa vào sức hút của ngành học ở thời điểm hiện tại, các trường rất dễ đào tạo theo nhu cầu của quá khứ. Vì vậy, dự báo phải đi trước tuyển sinh, thậm chí đi trước cả việc mở ngành: Phải xác định thị trường sẽ cần loại nhân lực nào, với kỹ năng nào, ở quy mô bao nhiêu và vào thời điểm nào.

Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về mở ngành, các cơ sở đào tạo phải phân tích, dự báo nhu cầu nhân lực về số lượng, trình độ, yêu cầu năng lực của người học sau tốt nghiệp, phạm vi thị trường nhân lực và nhu cầu sử dụng lao động hiện tại cũng như trong tương lai. Hồ sơ mở ngành còn phải có khảo sát yêu cầu của nhà tuyển dụng, phân tích xu hướng phát triển của lĩnh vực và sự phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, tuyển sinh không thể chỉ là câu chuyện “trường có khả năng đào tạo gì”, mà phải trả lời được câu hỏi xã hội cần gì và sẽ cần gì trong những năm tới.

Từ tuyển sinh đến đào tạo thực chất

Sau tuyển sinh, đào tạo là mắt xích quyết định trực tiếp chất lượng nguồn nhân lực. Thị trường lao động hiện nay đòi hỏi người tốt nghiệp không chỉ có kiến thức chuyên môn mà còn phải có năng lực số, ngoại ngữ, khả năng làm việc nhóm, giải quyết vấn đề, thích ứng với công nghệ và học tập suốt đời. Vì thế, chương trình đào tạo không thể là một bộ khung được xây dựng một lần rồi sử dụng trong nhiều năm. Nếu doanh nghiệp thay đổi công nghệ thì chương trình phải thay đổi. Vị trí việc làm thay đổi thì chuẩn đầu ra phải thay đổi. Những kỹ năng mới xuất hiện thì nhà trường phải nhanh chóng đưa vào quá trình đào tạo.

Thông tư 54/2026/TT-BGDĐT về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học cũng đặt yêu cầu các trường xây dựng, rà soát, cập nhật và cải tiến chương trình; đồng thời công khai thông tin về việc làm và phản hồi của người học sau tốt nghiệp.

Tại Đại học Kinh tế Quốc dân, việc kết nối doanh nghiệp đã được đưa vào hệ sinh thái hỗ trợ sinh viên. Năm học 2025-2026, NEU Career Week thu hút 37 doanh nghiệp và hơn 5.500 sinh viên; hệ thống việc làm ghi nhận hơn 5.000 tin tuyển dụng từ 1.449 doanh nghiệp. Tháng 8/2026, NEU Internship Day tiếp tục kết nối 14 doanh nghiệp với gần 1.000 sinh viên năm thứ ba, thứ tư.

GS, TS Tô Trung Thành, Phó Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng doanh nghiệp phải là đối tác quan trọng trong quá trình đào tạo. Nhà trường mở rộng các chương trình thực tập, trải nghiệm nghề nghiệp, tham quan doanh nghiệp, đào tạo kỹ năng và ngày hội việc làm để sinh viên tiếp cận thị trường lao động từ sớm.

Cách làm này cho thấy doanh nghiệp không nên chỉ xuất hiện ở cuối quá trình, khi sinh viên đã tốt nghiệp, mà phải tham gia ngay từ khi chương trình đào tạo được thiết kế.

Một điểm đáng chú ý trong yêu cầu mới là đưa nghiên cứu vào giữa chuỗi liên kết. Nếu chỉ kết nối dự báo, tuyển sinh, đào tạo, doanh nghiệp và việc làm, giáo dục đại học có thể đáp ứng nhu cầu hiện tại. Nhưng để chuẩn bị nhân lực cho tương lai, nghiên cứu khoa học phải tham gia vào quá trình tạo ra những năng lực mới. Sinh viên cần được tham gia nghiên cứu từ sớm. Giảng viên phải nghiên cứu những vấn đề thực tế. Doanh nghiệp cần đặt ra các bài toán công nghệ và trường đại học phải có năng lực giải quyết những bài toán ấy bằng tri thức mới.

Khi nghiên cứu kết nối với doanh nghiệp, những bài toán thực tế của doanh nghiệp có thể trở thành đề tài nghiên cứu; kết quả nghiên cứu có thể trở thành sản phẩm; sản phẩm tạo ra công nghệ mới; công nghệ mới lại tạo ra những vị trí việc làm mới và đòi hỏi những chương trình đào tạo mới.

GS, TS, NGƯT Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, điểm khác biệt của một trường đại học nghiên cứu là: “Đào tạo không chỉ để đáp ứng những việc làm đang có, mà còn góp phần tạo ra năng lực và việc làm của tương lai”. Nhưng để những năng lực ấy không dừng lại trong phòng thí nghiệm mà thật sự đi vào đời sống và thị trường lao động, nhà trường cần một đối tác đồng hành ngay từ đầu: Doanh nghiệp.

Vì vậy, doanh nghiệp không thể chỉ xuất hiện ở điểm cuối của chuỗi, khi sinh viên đã tốt nghiệp và bắt đầu tìm việc. Doanh nghiệp cần tham gia từ đầu: Góp ý về nhu cầu nhân lực, tham gia xây dựng chuẩn đầu ra, cử chuyên gia giảng dạy, tiếp nhận sinh viên thực tập, đặt hàng nghiên cứu, đánh giá năng lực người học và cuối cùng tuyển dụng.

Tại Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH), định hướng này được thể hiện qua việc tăng cường kết nối đào tạo, nghiên cứu với các đối tác, mở rộng hợp tác doanh nghiệp, thúc đẩy chuyển giao tri thức và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Còn tại Đại học Công nghiệp Hà Nội, Ngày hội việc làm 2026 có hơn 70 doanh nghiệp tham gia, mang đến khoảng 6.000 cơ hội việc làm và thực tập. Tại Đại học Bách khoa Hà Nội, hoạt động thực tập doanh nghiệp được tổ chức theo quy trình từ đăng ký nguyện vọng, doanh nghiệp xét duyệt đến thực tập và đánh giá kết quả.

Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh, giáo dục đại học phải được đặt trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trong đó nhà trường là nền tảng kết nối chặt chẽ giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp. Thứ trưởng Lê Quân cũng nhấn mạnh vai trò của đại học như một trung tâm đổi mới sáng tạo, thay vì chỉ là nơi đào tạo nguồn nhân lực đơn thuần.

Như vậy, chuỗi liên kết mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo mới đặt ra không phải một quy trình hành chính đơn thuần mà đòi hỏi thay đổi cách vận hành của cả hệ thống. Nhà nước phải có dữ liệu và dự báo đáng tin cậy. Trường đại học phải chủ động điều chỉnh ngành, quy mô tuyển sinh và chương trình đào tạo. Nghiên cứu phải gần hơn với các bài toán thực tế. Doanh nghiệp phải tham gia sâu hơn vào đào tạo và nghiên cứu. Còn việc làm phải trở thành một trong những thước đo quan trọng của chất lượng đào tạo.