Cuộc đua phủ sóng hạ tầng trạm sạc xe điện

Cùng với đà tăng trưởng của thị trường xe điện, hạ tầng trạm sạc tại Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển sôi động với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp. Xu hướng này phản ánh quá trình chuyển dịch sang giao thông xanh đang được thúc đẩy đồng thời từ chính sách và thị trường.

Cuộc cạnh tranh hạ tầng trạm sạc sẽ không chỉ nằm ở số lượng trụ sạc mà còn ở công nghệ và hạ tầng số đi kèm. Đồ họa: ANH QUÂN
Cuộc cạnh tranh hạ tầng trạm sạc sẽ không chỉ nằm ở số lượng trụ sạc mà còn ở công nghệ và hạ tầng số đi kèm. Đồ họa: ANH QUÂN

Thị trường phát triển bùng nổ

Mới đây nhất, Công ty TNHH Năng lượng Nova (Nova Energy) khai trương bãi đỗ xe tích hợp trạm sạc xe điện tại Thành phố Hồ Chí Minh. Mô hình “hai trong một” này cho phép người dùng kết hợp linh hoạt, mang lại sự tiện lợi tối đa.

Đại diện Nova Energy cho biết, mô hình này ra đời nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt trạm sạc xe điện, đồng thời đón đầu lộ trình phát triển giao thông xanh của thành phố. Dự án kỳ vọng sẽ bổ sung hạ tầng sạc, giúp người dân dễ dàng tiếp cận xe điện.

Thị trường trạm sạc xe điện tại Việt Nam tiếp tục ghi nhận sự cạnh tranh và sôi động mới khi TMT Motors chính thức gia nhập đường đua này. Theo kế hoạch, TMT Motors đặt mục tiêu phủ sóng 30.000 trạm sạc trên toàn quốc. Riêng Công ty TNHH VETC Digital đã liên thông hơn 350 trụ sạc trên toàn quốc. Độ phủ này cơ bản đáp ứng nhu cầu đi đường dài của xe năng lượng mới. Chủ xe có thể sạc thuận tiện trên một ứng dụng duy nhất.

Ông Trần Nguyễn Ngọc Thành, Tổng Giám đốc VETC Digital cho biết: "Chúng tôi không đặt mục tiêu trở thành đơn vị sở hữu nhiều trạm sạc nhất. Điều VETC hướng tới là xây dựng một nền tảng kết nối mở, nơi các đơn vị vận hành trạm sạc, các hãng xe và người dùng cùng được hưởng lợi. Khi càng nhiều đối tác tham gia, người dùng sẽ có thêm lựa chọn, còn các doanh nghiệp sẽ nâng cao hiệu quả khai thác hạ tầng".

Theo hãng nghiên cứu thị trường Statista (Đức) một câu chuyện hấp dẫn đang diễn ra tại Việt Nam. Dù xe điện hiện vẫn chỉ chiếm một thị phần khiêm tốn, nhưng các tín hiệu đều chỉ ra một bước chuyển mình bùng nổ đang đến rất gần. Giá xăng tăng cao cùng nhận thức về bảo vệ môi trường ngày càng cải thiện đang tạo đà nhanh hơn nữa cho sự chuyển đổi.

Chính phủ Việt Nam đã rất chủ động khi đưa ra nhiều chính sách ưu đãi từ việc giảm thuế nhập khẩu đến miễn phí lệ phí trước bạ cho xe điện. Các chuyên gia dự báo đến năm 2028, Việt Nam sẽ có khoảng một triệu chiếc ô-tô điện lưu thông trên đường. Con số này thậm chí dự kiến sẽ đạt 3,5 triệu xe vào năm 2040.

Vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực phát triển hệ thống trạm sạc hiện nay đang thuộc về Công ty cổ phần Phát triển trạm sạc toàn cầu V-Green (do VinFast thành lập và sở hữu 90% cổ phần). Ông Nguyễn Đức Vinh, Phó Tổng Giám đốc V-Green cho biết, công ty đã có hơn 150.000 trạm sạc phủ sóng khắp toàn quốc. Trong giai đoạn phát triển mới, V-Green sẽ tập trung đầu tư trọng điểm cho các siêu trạm sạc để đáp ứng nhu cầu đi xa của người dùng ô-tô điện và mở rộng mạng lưới tủ đổi pin xe máy điện để bảo đảm sự thuận tiện cho tất cả khách hàng.

231.jpg
Hạ tầng trạm sạc tại Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển sôi động. Ảnh: ANH QUÂN

Tìm giải pháp tháo gỡ rào cản

Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá, đến năm 2030, 50% phương tiện đô thị và toàn bộ xe bus, taxi tại Việt Nam sẽ chạy bằng điện. Mục tiêu của Việt Nam là đến năm 2050 chuyển đổi hoàn toàn các phương tiện giao thông đường bộ sang chạy bằng điện hoặc năng lượng xanh. Từ nay đến năm 2030, nhu cầu sạc xe điện sẽ chưa tạo áp lực lớn lên ngành điện Việt Nam, nhưng sẽ tăng mạnh sau đó. Đến năm 2035, để đáp ứng nhu cầu sạc, ngành điện cần tăng sản lượng thêm 5% và nâng công suất mạng lưới thêm 4%. Đến năm 2050, con số này sẽ lần lượt là 30% và 15% nếu muốn đạt được mục tiêu phát triển xe điện.

Ông Trần Nguyễn Ngọc Thành cho biết, bức tranh chuyển dịch phương tiện tại Việt Nam đang diễn ra rất mạnh mẽ. Đến hết sáu tháng đầu năm 2026, dữ liệu ghi nhận có 28,9% số xe đăng ký mới trên thị trường là xe năng lượng mới. Như vậy, cứ 100 xe đăng ký mới thì có gần 29 xe điện hoặc hybrid. Đặc biệt đối với dòng xe chở khách du lịch, tỷ lệ này lên tới 57%. Ngay cả mảng logistics và vận tải đội xe cũng bắt đầu chuyển đổi với 2,5% số xe đăng ký mới là xe điện. Những áp lực thậm chí có thể đến nhanh hơn cả dự đoán của WB.

Khi hệ thống đường cao tốc mở rộng lên hơn 3.000 km cùng hàng nghìn km quốc lộ, xu hướng di chuyển đường dài bằng xe điện tăng cao. Tuy nhiên, người đi xe điện hiện phải cài từ 5 đến 7 ứng dụng khác nhau để tìm trạm sạc ở các địa phương, đồng thời phải duy trì một số tiền tối thiểu trong mỗi ứng dụng. Trải nghiệm người dùng vì thế bị đứt gãy do thiếu một nền tảng tập trung hiển thị chính xác vị trí và trạng thái trạm sạc. Ở chiều ngược lại, các nhà đầu tư trạm sạc độc lập cũng gặp khó khăn lớn về chi phí tiếp cận khách hàng ngoài khu vực hiện hữu, khó chạm tới tệp người dùng rộng lớn và đối mặt với rào cản vận hành quy mô lớn.

Theo ông Lê Lập Sơn, Giám đốc Tân Phát Etek Sài Gòn, đơn vị đang xây dựng hệ thống trạm sạc cho nhiều đối tác, hành lang pháp lý liên quan đến việc lắp đặt trụ sạc và sự phối hợp giữa các bộ, ngành hiện vẫn chưa thật sự đầy đủ. Thí dụ, hiện đã có quy định yêu cầu việc lắp đặt trụ sạc phải bảo đảm an toàn, đặc biệt là các yêu cầu về phòng cháy, chữa cháy. Tuy nhiên, các hướng dẫn cụ thể về việc lắp đặt như thế nào, tiêu chuẩn kỹ thuật ra sao thì vẫn còn thiếu. Tiếp theo, cuộc cạnh tranh sắp tới sẽ không chỉ nằm ở số lượng trụ sạc mà còn ở công nghệ và hạ tầng số đi kèm.

Ông Sơn cho biết, ngoài vấn đề về hạ tầng điện và hành lang pháp lý, còn một vấn đề đáng chú ý khác là sự phân bổ trụ sạc tại Việt Nam chưa đồng đều. Ở các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh hay Thủ đô Hà Nội, số lượng trụ sạc tương đối cao. Nếu tính trên số lượng xe điện đang lưu hành, mật độ trụ sạc tại Việt Nam thậm chí có thể được xem là khá cao so một số thị trường lớn như Mỹ hoặc một số quốc gia châu Âu. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, người sử dụng xe điện có thể tìm thấy trụ sạc trong bán kính khoảng 3-5 km.

Nhưng khi đi đến một số khu vực như Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên hay vùng Tây Bắc, câu chuyện tìm được chỗ nạp năng lượng trở nên khó khăn hơn rất nhiều.

Gần đây, VinFast đã bắt đầu phát triển thêm một số trạm sạc dọc các tuyến đường cao tốc. Tuy nhiên, mạng lưới này vẫn còn khá thưa. Trong khi đó, trên các tuyến quốc lộ, hệ thống trạm sạc đã phát triển rộng hơn nhờ các chủ đầu tư tham gia theo hình thức nhượng quyền thương hiệu.

Điều này dẫn đến một nghịch lý, đi trên quốc lộ thì việc tìm trạm sạc tương đối thuận tiện, nhưng khi di chuyển trên cao tốc, người dùng vẫn có thể gặp những đoạn đường rất dài không có điểm sạc. Với những mẫu xe có dung lượng pin không quá lớn, đây là một hạn chế đáng kể. Người dùng có thể buộc phải đi quốc lộ thay vì đường cao tốc, hoặc phải rời cao tốc để tìm trạm sạc rồi mới tiếp tục hành trình.

Việt Nam không thiếu trụ sạc, mà quan trọng hơn là mạng lưới trụ sạc chưa được phân bổ phù hợp với nhu cầu di chuyển thực tế. Ông Lê Lập Sơn đưa ra tính toán: “Các doanh nghiệp muốn xây dựng một mạng lưới trạm sạc phủ khắp toàn quốc đối diện với bài toán chi phí đầu tư rất lớn. Chi phí không chỉ nằm ở bản thân thiết bị sạc, doanh nghiệp còn phải đầu tư hạ tầng điện, trạm biến áp, mặt bằng, thiết bị, hệ thống vận hành và các chi phí liên quan. Tổng vốn đầu tư cho một trạm sạc quy mô lớn có thể lên tới khoảng 7-8 tỷ đồng, tùy cấu hình và điều kiện thực tế. Rào cản vốn quá lớn này khiến rất ít doanh nghiệp đủ tiềm lực tài chính để nhanh chóng xây dựng một hệ thống trạm sạc có quy mô tương đương”.

Từ những phân tích trên cho thấy, trong giai đoạn tới, bài toán của thị trường không chỉ là có thêm bao nhiêu trụ sạc, mà còn là ai sẽ đầu tư, đầu tư ở đâu, tiêu chuẩn kỹ thuật như thế nào, khả năng liên thông giữa các hệ thống ra sao và người dùng có thể tiếp cận, thanh toán dịch vụ một cách thuận tiện nhất.