Kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9

Mở cánh cửa tương lai cho học sinh vùng biên (kỳ 1)

Ngày 5/9, tiếng trống khai giảng năm học 2026-2027 vang lên cùng một dấu mốc đặc biệt: 108 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới dự kiến đồng loạt được khánh thành, bàn giao, đưa vào sử dụng. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kỳ vọng những ngôi trường ấy sẽ trở thành những “cột mốc mềm” về giáo dục vùng biên. Đằng sau những công trình mới là một chủ trương lớn nhằm tạo công bằng trong cơ hội giáo dục, thu hẹp khoảng cách vùng miền và đầu tư cho nguồn nhân lực của vùng biên trong tương lai.

Tổng Bí thư Tô Lâm dự Lễ khánh thành Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS Si Pa Phìn (tỉnh Điện Biên) ngày 31/1/2026. Ảnh: THÀNH ĐẠT
Tổng Bí thư Tô Lâm dự Lễ khánh thành Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS Si Pa Phìn (tỉnh Điện Biên) ngày 31/1/2026. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Kỳ 1: Rút ngắn những con đường đến trường

Từ chủ trương của Bộ Chính trị tại Thông báo Kết luận số 81-TB/TW ngày 18/7/2025, 229 trường phổ thông nội trú liên cấp đang được triển khai tại các xã biên giới đất liền trên cả nước. Những ngôi trường mới không chỉ bổ sung phòng học, chỗ ở và điều kiện sinh hoạt cho học sinh vùng biên, mà còn mang theo một mục tiêu lớn hơn: Thu hẹp khoảng cách giáo dục, tạo nguồn nhân lực và mở thêm cơ hội phát triển cho những vùng đất còn nhiều gian khó.

Gian nan đường tới trường

Xã Phú Xá thuộc địa bàn miền núi xa xôi của tỉnh Lạng Sơn nằm trên đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Nơi ấy quanh năm mây mù bao phủ, sương giá che chắn cả con đường mòn xuống núi. Học sinh đi học tại Trường phổ thông dân tộc Bán trú TH và THCS Phú Xá có em ở xa nhất phải đi hơn 15 km. Ngày nắng, những con đường ấy đã xa. Ngày mưa, đường trơn trượt, đất đá sạt lở, nước dâng ở những ngầm tràn, việc đến lớp vì thế trở thành một cuộc vượt đường thật sự.

Thầy Hà Sĩ Huyên đã có ba năm dạy học ở Phú Xá. Thầy kể, có lúc đường đi vất vả đến mức học sinh nản chí, muốn bỏ học. Khi ấy, thầy cô lại đến tận nhà vận động, khích lệ các em tiếp tục đến trường.

Tại thôn Nà Lại (xã Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn) con đường đến trường còn gắn với hoàn cảnh của từng gia đình. Đồng chí La Văn Lý (dân tộc Nùng), Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn Nà Lại chia sẻ, thôn có 100% cư dân là đồng bào dân tộc thiểu số, hiện còn 28 hộ nghèo và cận nghèo. Trong những đoạn đường học sinh phải đi qua, dốc Nà Lại được xem là nguy hiểm nhất. Con dốc cao, quanh co, một bên là vực sâu, một bên là vách núi có nguy cơ sạt lở. Có những thời điểm, vì con đường không còn bảo đảm an toàn, học sinh buộc phải nghỉ học.

Ở Trường phổ thông nội trú TH và THCS Quảng Sơn (xã Đường Hoa, thành phố Quảng Ninh), khoảng cách đến trường hiện lên qua những con số rất cụ thể. Em Lường Thị Điệp, học sinh lớp 7A (thôn Tài Chi), nhà cách trường khoảng 11 km; em Vương Thị Nhung, lớp 7B (thôn Pạc Sủi), cách trường 9,5 km. Với Điệp và Nhung, mỗi ngày đến lớp là một hành trình dài. Những ngày trời mưa, đường núi vốn xa lại trơn trượt, khó đi, khiến việc đến trường thêm phần vất vả. Nhưng những chuyến đi ấy vẫn nối tiếp nhau, bởi phía cuối con đường là lớp học đang chờ các em.

Còn ở các xã vùng A Lưới (thành phố Huế), khoảng cách ấy còn nằm trong chính nhịp sống của mỗi gia đình. Dọc dãy Trường Sơn, một bộ phận trẻ em sau giờ học vẫn theo ba mẹ lên nương, một số em còn nhỏ thì ở nhà trông em. Tuổi thơ của các em vì thế sớm gắn với những công việc của gia đình, với nắng gió trên những triền núi. Những đứa trẻ chơi với nhau lông lốc giữa sân, trên những con đường xóm, da sạm đi, tóc ngả vàng màu nắng.

Câu chuyện ở Hồng Thủy cũ, nay thuộc xã A Lưới 1, cho thấy rõ hơn những nhọc nhằn ấy. Tại điểm trường Pâr Ay, thuộc Trường TH và THCS Hồng Thủy, xã A Lưới 1, con đường đến lớp của học sinh đi qua những cung đường dốc, cheo leo. Những ngày mưa lũ, việc đi lại càng khó khăn; bữa trưa của nhiều em chỉ là nắm cơm hoặc gói mì tôm mang theo từ nhà. Đường xa, thời tiết thất thường, thức ăn lại được bảo quản bằng những dụng cụ đơn sơ như túi nylon nên có khi đến trưa đã bị hỏng. Số học sinh ở xa không nhiều, nhà trường cũng không thể tổ chức bán trú, vì thế các em vẫn phải tự mang theo bữa trưa trên đường đến lớp.

Ông Nguyễn Xuân Hoàng Gia, Chánh Văn phòng UBND xã A Lưới 3, kể rằng: “Trước đây, khi địa phương có chương trình hỗ trợ nuôi ăn, học sinh mầm non đến gửi rất đông. Khi chương trình kết thúc, nhiều gia đình lại đưa con lên nương!”. Câu chuyện ấy cho thấy, với những gia đình còn nhiều khó khăn, để một đứa trẻ ở lại trường không chỉ cần sự vận động, mà còn cần những điều kiện đủ thiết thực để việc học trở thành lựa chọn có thể duy trì.

231.jpg
Học sinh xã Đồng Đăng, Lạng Sơn mừng Lễ khởi công xây dựng trường. Ảnh: THANH TÂM

Một ngôi trường, nhiều điều ước

Từ những con đường xa và những nhu cầu rất cụ thể ấy, cuộc xây trường quy mô lớn nơi biên giới được triển khai. Từ chủ trương đầu tư xây dựng trường phổ thông nội trú (PTNT) liên cấp tại 248 xã, phường biên giới theo Thông báo kết luận số 81-TB/TW ngày 18/7/2025 của Bộ Chính trị, một cách tiếp cận mới về trường học vùng biên được hình thành: Không chỉ có lớp học, mà có cả nơi ăn, ở và sinh hoạt để học sinh yên tâm học tập.

Lạng Sơn, một tỉnh có 231 km đường biên giới, địa hình chia cắt, giao thông khó khăn với tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số chiếm hơn 80%, địa phương dự kiến xây 11 trường PTNT ở các xã biên với hơn 1,7 nghìn tỷ đồng. Trong đó, 4 trường PTNT TH và THCS tại các xã Kiên Mộc, Khuất Xá, Mẫu Sơn và Quốc Khánh được khánh thành đúng dịp khai giảng năm học mới 2026-2027. Khi đưa vào sử dụng, các trường có tổng cộng 138 lớp, đáp ứng chỗ học cho 4.728 học sinh với đầy đủ các hạng mục: Khối phòng học, khu nội trú, nhà hiệu bộ, thư viện, nhà ăn, khu vệ sinh, sân chơi, bãi tập thể thao, nhà đa năng…

Ở Quảng Ninh, thành phố đã chủ động bố trí 337,199 tỷ đồng từ ngân sách địa phương đầu tư 6 trường PTNT tại 6 xã biên giới đất liền. Phương án được lựa chọn là tận dụng cơ sở vật chất hiện có, kết hợp cải tạo, nâng cấp, mở rộng và xây dựng bổ sung những hạng mục cần thiết. Hai trường PTNT TH và THCS Quảng Sơn (xã Đường Hoa) và PTNT TH và THCS Bình Liêu (xã Bình Liêu) cơ bản đã đạt hơn 90% khối lượng; các hạng mục phục vụ trực tiếp việc dạy học, ăn ở và sinh hoạt được ưu tiên hoàn thiện trước để đón học sinh đúng dịp khai giảng năm học mới.

Còn Tuyên Quang, tỉnh có 6 trường PTNT TH và THCS được xây mới và đi vào hoạt động từ năm học 2026 - 2027 tại các xã: Thanh Thủy, Minh Tân, Pà Vầy Sủ, Phố Bảng, Sơn Vĩ, Xín Mần với tổng số 201 lớp, giải quyết chỗ học cho khoảng 6.944 học sinh…

Với những người dân từng chứng kiến học sinh mất an toàn trước thiên tai, bão lũ, điều họ chờ đợi từ công trình mới đôi khi rất cụ thể. Ở xã Pà Vầy Sủ, mưa lớn những năm trước khiến Trường phổ thông dân tộc bán trú TH Pà Vầy Sủ nằm trong vùng sạt trượt, việc dạy và học phải chuyển sang mượn lớp của trường THCS. Trường mầm non cũng từng phải di dời khỏi khu vực có nguy cơ sạt lở. Ông Dương Việt Hùng, Chủ tịch UBND xã chia sẻ: “Mong muốn về một ngôi trường mới trước hết bắt đầu từ sự an toàn!”.

Ước mơ ấy năm học này đã thành hiện thực khi ngôi trường PTNT liên cấp mới được xây dựng tại thôn Cốc Pú, trên khu đất bằng phẳng, nằm ngoài cung trượt sạt lở. Với khu lớp học, nhà nội trú, nhà ăn, nhà đa năng và khu công vụ giáo viên, ngôi trường mới không chỉ chấm dứt cảnh học tạm, học nhờ, mà còn tạo thêm một điểm tựa để học sinh vùng biên được học tập, ăn ở an toàn và ổn định.

Xuôi về phía dãy Trường Sơn, hai trường PTNT liên cấp A Lưới 3 và A Lưới 4 có tổng mức đầu tư hơn 418 tỷ đồng, phục vụ hơn 2.400 học sinh. A Lưới 3 có tổng mức đầu tư hơn 178 tỷ đồng, phục vụ 1.085 học sinh; A Lưới 4 hơn 240 tỷ đồng, phục vụ 1.318 học sinh. Hàng trăm học sinh sẽ được tổ chức nội trú tại trường.

Vùng đất dọc biên giới TP Huế nép dưới chân dãy Trường Sơn là nơi phân bổ của các tộc người Tà Ôi, Pa Cô, Vân Kiều, Pa Hi... Đồng bào ở đây, từ xưa đến nay đã quen tin vào những điều “mắt thấy”. Ông Hồ Văn Ơn, người xã A Lưới 4, nhìn ngôi trường liên cấp đang được xây ngày càng to, nằm bên con đường từ làng ra đường Hồ Chí Minh vẫn không hết tò mò: “Ít bữa là học sinh to nhỏ của cả xã về đây học à. Hắn được ở lại, Nhà nước cho ăn à. Dà ơi. Ở lại đây thì làm răng giúp ba mẹ ở nhà được?”. Còn chị Lê Thị Ta Loi mừng rỡ: “Mấy đứa đi lên nương có phải làm để nuôi gia đình đâu, nó làm để nuôi nó thôi. Nhưng vào trường học thì thầy cô cho ăn, nhà không nuôi nữa, thì tốt hơn cho nó rồi!”.

Nhưng câu nói mộc mạc ấy cho thấy một ngôi trường nội trú sẽ làm thay đổi không ít điều trong đời sống quen thuộc của các gia đình. Với một bộ phận phụ huynh, chuyện con ở lại trường, được ăn, được ngủ, được học và được chăm sóc trong những ngày học vẫn là điều mới mẻ.

Tại lễ khởi công giai đoạn 2 vào ngày 19/3 ở xã Đồng Đăng (tỉnh Lạng Sơn), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu các đơn vị thiết kế, thi công, tư vấn, giám sát thực hiện với tinh thần trách nhiệm cao nhất, bởi đây không chỉ là một dự án xây dựng thông thường mà là nơi gửi gắm niềm tin, ước mơ của đồng bào biên giới. Tổng Bí thư kỳ vọng những ngôi trường sẽ trở thành những “cột mốc mềm” về giáo dục vùng biên, góp phần đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững và thắp sáng niềm tin cho tương lai vùng biên cương Tổ quốc.

Nhưng trước hết, những ngôi trường ấy bắt đầu bằng những điều rất gần gũi: Một đứa trẻ không phải vượt con dốc trơn trượt trong ngày mưa; một học sinh ở xa có thể ở lại trường thay vì sáng đi, tối về; một bữa cơm trưa được chuẩn bị ngay tại trường; một phòng học có đủ thiết bị; một sân thể thao để các em chạy nhảy sau giờ học.

Và đôi khi, ước mơ về một ngôi trường mới cũng giản dị như Hoàng Thị Hà, học sinh Trường THCS Hồng Phong (xã Đồng Đăng) chia sẻ: “Em thích nhất là phòng máy tính!”. Trước đây, mỗi tuần em có hai tiết tin học, nhưng các bạn phải thay phiên nhau sử dụng máy tính nên không có nhiều thời gian thực hành. Với em, trường mới trước hết là mong muốn được ngồi trước máy tính lâu hơn, được tự tay thực hành nhiều hơn.

Từ những điều nhỏ bé ấy, những cánh cửa mới bắt đầu mở ra.

(Còn nữa)