Kinh tế số trước ngưỡng tăng trưởng mới

Kinh tế số đóng góp 14,02% GDP năm 2025, nhưng mục tiêu đến năm 2030 là tối thiểu 30%. Để thu hẹp khoảng cách này, Việt Nam cần tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực.

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao làm chủ các công nghệ để phát triển. Ảnh: NAM HẢI
Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao làm chủ các công nghệ để phát triển. Ảnh: NAM HẢI

Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), năm 2025, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong tổng sản phẩm nội địa (GDP) đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD. Việt Nam đã trở thành nền kinh tế số lớn thứ hai Đông Nam Á và thuộc nhóm phát triển nhanh nhất khu vực.

Động lực tăng trưởng quan trọng

Theo ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc chiến lược để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực chính của mô hình tăng trưởng mới. Cùng với đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đưa ra mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP. Khoa học, công nghệ, chuyển đổi số đang được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với năng suất, tốc độ tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Mới đây, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng ký ban hành Quyết định số 1033/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 - 2030 với mục tiêu xây dựng nền kinh tế số năng động dựa trên nền tảng số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Đồng thời, kiến tạo xã hội số văn minh, an toàn và bao trùm, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận và thụ hưởng các thành quả của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của người dân.

“Gắn liền với tiến trình chuyển đổi số quốc gia, những năm qua, kinh tế số đã khẳng định vai trò là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế, góp phần định hình lực lượng sản xuất hiện đại, là nền tảng đưa Việt Nam phát triển bứt phá trong kỷ nguyên số”, ông Bùi Trung Nghĩa nêu rõ.

Còn theo ông Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Ban Chính sách, chiến lược Trung ương), Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế số. Tỷ lệ người dân sử dụng internet, điện thoại thông minh và các nền tảng số thuộc nhóm cao trong khu vực.

Khoảng 85,6 triệu người sử dụng internet và vẫn đang gia tăng đều qua các năm. Trong khi đó, thương mại điện tử là trụ cột khi chiếm tới hai phần ba tổng giá trị hàng hóa kinh tế số với 24,3 triệu người Việt Nam mua hàng trực tuyến, tổng doanh thu tiêu dùng đạt 13,8 tỷ USD.

Cùng với đó, thương mại điện tử tăng trưởng mạnh, trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội. Những nền tảng mạng xã hội, thanh toán không dùng tiền mặt đã trở thành công cụ kinh doanh đắc lực cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của các nguồn lực mới và dữ liệu đang được rất nhiều doanh nghiệp, bao gồm các doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng để thay thế nhân lực nhằm tối ưu hóa đầu vào.

Cần xây dựng một chiến lược đúng đắn

Tuy nhiên, theo ông Cương, phát triển kinh tế số tại Việt Nam vẫn đối mặt với không ít điểm nghẽn. Trước hết là yêu cầu đồng bộ giữa hạ tầng cứng như công nghệ thông tin, viễn thông, logistics với hạ tầng mềm về xã hội, văn hóa. Bên cạnh đó, những hạn chế trong đầu tư công, cơ chế chấp nhận rủi ro đối với hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo cũng là những vấn đề cần được tháo gỡ. Chính sách hỗ trợ đã được ban hành khá nhiều nhưng vẫn còn khoảng cách giữa chính sách và hiệu quả thực thi.

Do đó, các nhóm chính sách nhằm tạo động lực tăng trưởng mới không chỉ cần đầy đủ mà quan trọng hơn là phải được cụ thể hóa thành các văn bản pháp luật và hướng dẫn thi hành rõ ràng, khả thi. Cùng với đó, cơ quan, tổ chức thực thi cần chuyển sang tâm thế chủ động, sẵn sàng hỗ trợ doanh nghiệp, tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp dễ tiếp cận và thực hiện chính sách.

Không chỉ vướng mắc về thể chế, hạ tầng và nguồn lực cho chuyển đổi số cũng được xem là những “nút thắt” lớn. TS Nguyễn Huy Công, Viện trưởng Phát triển công nghệ tiên tiến, Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, hệ thống đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từ Trung ương đến địa phương hiện chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ.

Hoạt động đổi mới sáng tạo hỗ trợ địa phương hiện chủ yếu tập trung vào một số mô hình đã phát huy hiệu quả (như hệ thống truy xuất nguồn gốc). Tuy nhiên, việc kết nối các hệ thống này trên nền tảng số để hỗ trợ địa phương vẫn gặp nhiều thách thức, nguồn vốn đầu tư còn dàn trải, chưa tập trung.

Về nguồn lực, các địa phương hiện vẫn phải dựa nhiều vào các hệ thống đổi mới sáng tạo từ Trung ương. Với những lĩnh vực đặc thù như chuyển đổi số trong ngành điện tử, bán dẫn, dù đã được quan tâm và đề cập nhiều, việc đầu tư và đưa vào hệ thống triển khai vẫn chưa bài bản. Để thực hiện hiệu quả, mỗi đơn vị, địa phương cần có phòng thí nghiệm chuyên môn.

“Từ thực tế này, cần xây dựng một chiến lược đúng đắn, mang tính đột phá, gắn với từng hoạt động sản xuất, kinh doanh và điều kiện cụ thể của mỗi địa phương. Đây là cơ sở để hình thành cách tiếp cận đồng bộ trong thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, qua đó tạo động lực xây dựng nền kinh tế phát triển bền vững trong tương lai”, ông Công kỳ vọng.

Ở góc nhìn doanh nghiệp, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam cho biết, các doanh nghiệp điện tử Việt Nam đã đẩy mạnh chuyển đổi số từ sớm. Để tiếp tục nâng cao vị thế, doanh nghiệp điện tử cần củng cố các năng lực cốt lõi. Trong đó, năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo là yếu tố quan trọng.

Cùng với đó, doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Để tham gia chuỗi cung ứng ở những vị trí có giá trị cao hơn, lợi thế về giá là chưa đủ. Các đối tác ngày càng quan tâm đến chất lượng, khả năng giao hàng, truy xuất nguồn gốc, an toàn thông tin, các yêu cầu về môi trường, xã hội và quản trị, cũng như khả năng ứng phó với rủi ro.

Công nghệ và máy móc có thể đầu tư, nhưng để vận hành hiệu quả vẫn cần đội ngũ có năng lực. Do đó, doanh nghiệp cần chú trọng đào tạo nhân sự có chuyên môn, kỹ năng và khả năng đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp lớn trong chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần tăng cường liên kết. Những mối liên kết hiệu quả sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp cùng đổi mới, đẩy mạnh chuyển đổi số và phối hợp giải quyết các yêu cầu đặt ra từ các doanh nghiệp đầu chuỗi.

“Công nghệ có thể mua, máy móc có thể đầu tư nhưng để vận hành và làm chủ công nghệ thì cần con người. Vì vậy, để kinh tế số trở thành động lực tăng trưởng mới, điều quan trọng là phải tạo điều kiện để doanh nghiệp làm chủ công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực cạnh tranh”, bà Hương nhấn mạnh.

Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) cho biết, tổng doanh thu kinh tế số của ASEAN giai đoạn 2019 - 2025 đã vượt 300 tỷ USD, dự kiến cán mốc 1.000 tỷ USD vào năm 2030. Con số này có thể tăng lên gấp đôi, lên tới 2.000 tỷ USD nếu Hiệp ước Khung kinh tế số ASEAN được thông qua.

Có thể bạn quan tâm