Để chính sách an sinh đến đúng người, đúng lúc

Tại buổi làm việc ngày 25/8 về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt vấn đề đổi mới cách tiếp cận chính sách theo hướng chủ động hơn, bao trùm hơn, để mỗi người dân, dù ở đâu và trong hoàn cảnh nào, đều được bảo vệ trước những rủi ro lớn, tiếp cận các dịch vụ thiết yếu và có cơ hội phát triển.

Nhiều người dân vẫn chưa biết mình thuộc diện được hưởng chính sách an sinh nào. Ảnh: ANH QUÂN
Nhiều người dân vẫn chưa biết mình thuộc diện được hưởng chính sách an sinh nào. Ảnh: ANH QUÂN

Một tấm thẻ bảo hiểm, một cơ hội điều trị

Ông Nguyễn Văn Long, 58 tuổi (ở Lạng Sơn), mắc nhược cơ, một bệnh hiếm và phải điều trị dài ngày tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn cùng một số cơ sở y tế tuyến Trung ương. Tổng chi phí điều trị lên tới hơn 600 triệu đồng, trong đó quỹ bảo hiểm y tế (BHYT) chi trả gần như toàn bộ. Vợ ông, bà Vũ Thị Lan cho biết, mỗi lần nghe thông báo chi phí điều trị hàng chục triệu đồng, gia đình rất lo lắng nhưng nhờ có BHYT, phần phải tự chi trả ít hơn nhiều nên ông có thể tiếp tục điều trị.

Một trường hợp bệnh nặng như vậy cho thấy giá trị của BHYT ở khả năng chia sẻ rủi ro khi biến cố xảy đến. Một gia đình có thể không đủ sức tự gánh khoản viện phí lớn, nhưng khi tham gia một cơ chế bảo hiểm rộng hơn, phần rủi ro được chia sẻ cho cả cộng đồng.

Tại một số bệnh viện tuyến cuối như Bạch Mai, Việt Đức, K… những bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn cũng thường xuyên được bệnh viện phối hợp với cơ quan bảo hiểm và các tổ chức xã hội tìm cách hỗ trợ để tiếp tục điều trị. Với những người phải điều trị dài ngày, một tấm thẻ BHYT có thể trở thành sự khác biệt rất lớn giữa việc tiếp tục chữa bệnh và phải cân nhắc dừng lại vì chi phí.

Theo thông tin tại cuộc làm việc về an sinh xã hội ngày 25/8, nhìn trên quy mô cả nước, vai trò đó ngày càng rõ. Đến hết tháng 6/2026, cả nước có 98,68 triệu người tham gia BHYT, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2025. Số người tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) đạt 22,23 triệu, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) 17,56 triệu.

Nhưng gần 100 triệu người có thẻ BHYT không đồng nghĩa bài toán an sinh đã hoàn tất. Điều người dân quan tâm là khi vào viện, quỹ bảo hiểm chia sẻ được bao nhiêu và mình còn phải tự trả bao nhiêu.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, có khoảng 93,75 triệu lượt khám, chữa bệnh BHYT. Tổng số chi phí các cơ sở khám, chữa bệnh đề nghị quỹ BHYT thanh toán lên tới 84.669 tỷ đồng, tăng hơn 8.326 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2025; chi phí bình quân mỗi lượt điều trị cũng tăng khoảng 6,5%. BHXH Việt Nam cho rằng áp lực này đến từ việc quyền lợi người tham gia được mở rộng, dân số già hóa, bệnh không lây nhiễm gia tăng và sự phát triển của thuốc, kỹ thuật, vật tư y tế mới có chi phí cao.

Những con số này cho thấy BHYT đang chia sẻ một phần rủi ro rất lớn với người dân. Đồng thời, bài toán đặt ra với ngành bảo hiểm và các cơ sở y tế là làm sao sử dụng nguồn quỹ hiệu quả, để người bệnh được hưởng đúng quyền lợi mà quỹ vẫn bảo đảm khả năng chi trả lâu dài.

Tại Bệnh viện E, công tác quản lý, kiểm soát chi phí khám, chữa bệnh BHYT được đặt cùng việc xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật và giá dịch vụ. Bệnh viện rà soát các khoản chi, hướng tới chi phí hợp lý, đồng thời bảo đảm sử dụng quỹ đúng mục đích. Ở Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, bên cạnh công tác chuyên môn, bệnh viện cũng duy trì hỗ trợ những người bệnh mắc bệnh hiểm nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, kết nối thêm các nguồn lực xã hội để người bệnh có thể tiếp tục điều trị.

Điều đó cho thấy kiểm soát chi phí không đồng nghĩa với cắt giảm những gì người bệnh cần. Khoản chi hợp lý phải là khoản chi bảo đảm người bệnh được điều trị đúng, đồng thời giúp nguồn quỹ được sử dụng hiệu quả cho nhiều người hơn.

Đây cũng chính là lý do “chi phí người dân phải tự trả” được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt vào nhóm chỉ số cần theo dõi khi xây dựng bộ chỉ số quốc gia về an sinh. Một chính sách có độ bao phủ cao nhưng để người bệnh vẫn phải gánh một khoản quá lớn thì mức độ bảo vệ cần được nhìn lại.

231.jpg
Khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hà Nội. Ảnh: NAM HẢI

Từ bao phủ đến bảo vệ thực chất

Theo đánh giá của BHXH, vẫn còn khoảng trống an sinh “vô hình”. Một người cao tuổi ở vùng xa có thể không biết mình thuộc diện được hưởng chính sách nào. Một lao động tự do có thể muốn tham gia BHXH nhưng thu nhập không ổn định. Một người khuyết tật có thể có quyền tiếp cận dịch vụ nhưng gặp khó khăn ngay từ khâu đi lại, làm thủ tục.

Với những trường hợp ấy, chính sách có thể đã được ban hành nhưng chưa chắc đã đến đúng người, đúng lúc.

Đây là lý do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị xây dựng Cơ sở dữ liệu an sinh xã hội quốc gia, kết nối dữ liệu dân cư với bảo hiểm, thuế, việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở và thiên tai. Mục tiêu là hình thành hồ sơ an sinh theo vòng đời của mỗi người, qua đó giúp cơ quan quản lý nhận diện sớm nhu cầu và phối hợp chính sách.

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đột phá về an sinh không chỉ là tăng trợ cấp hay mở rộng số người thụ hưởng, mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực của Nhà nước trong phát hiện, lắng nghe, hỗ trợ người dân kịp thời và phòng ngừa rủi ro; đồng thời đổi mới quản trị, tài chính và giám sát xã hội. Một đề xuất đáng chú ý là xây dựng bộ chỉ số quốc gia về an sinh xã hội, công bố hằng năm theo địa phương và nhóm dân cư, đo cả mức độ bao phủ, sự đầy đủ của quyền lợi, tỷ lệ bỏ sót, thời gian giải quyết, chi phí người dân tự trả, khả năng có việc làm, khả năng tiếp cận của người khuyết tật và mức độ hài lòng. Nơi nào để sót đối tượng, giải quyết chậm hoặc để người dân phản ánh kéo dài thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm và giải trình.

BHXH Việt Nam hiện đang có một nền dữ liệu rất lớn. Đến hết tháng 6/2026, ngành quản lý dữ liệu của 22,23 triệu người tham gia BHXH, 17,56 triệu người tham gia BHTN và 98,68 triệu người tham gia BHYT. Hệ thống dữ liệu được kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Theo ông Nguyễn Hoàng Phương, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin (BHXH Việt Nam), nếu được khai thác hiệu quả, dữ liệu có thể giúp cơ quan quản lý nhìn thấy những nhóm trước đây dễ bị bỏ sót hơn: Người chưa tham gia, người tham gia chưa đầy đủ hoặc những trường hợp có nguy cơ mất quyền lợi. Còn trong lĩnh vực khám, chữa bệnh, ông Trần Quý Tường, Chủ tịch Hội Tin học Y tế Việt Nam cũng cho biết, dữ liệu điện tử giúp giảm việc nhập lại thông tin, hỗ trợ minh bạch trong thanh toán BHYT và hạn chế những xét nghiệm bị lặp lại khi kết quả cũ vẫn còn giá trị.

Khoảng trống an sinh vẫn đang hiện diện trong thị trường lao động. Lao động phi chính thức, người làm việc tự do, người có thu nhập bấp bênh là nhóm khó tham gia và duy trì BHXH lâu dài. Theo thống kê từ BHXH Việt Nam, có tới khoảng 97,9% số lao động phi chính thức không có BHXH (chỉ có khoảng 0,2% tham gia BHXH bắt buộc và khoảng 1,9% tham gia BHXH tự nguyện). Hầu hết lao động phi chính thức tự tạo việc làm, không có hợp đồng lao động hoặc không được chủ sử dụng lao động đóng bảo hiểm. Họ có thể chưa thuộc diện nghèo để nhận trợ cấp, nhưng lại thiếu một chỗ dựa khi mất việc, ốm đau hoặc về già. Cùng với đó, tình trạng chậm đóng, trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN tại một số doanh nghiệp cũng khiến những người đã tham gia hệ thống nhưng quyền lợi chưa được bảo đảm đầy đủ.

Như vậy, khoảng cách an sinh có thể xuất hiện ở cả hai phía: Người chưa bước vào mạng lưới bảo vệ và người đã tham gia nhưng quyền lợi bị ảnh hưởng trong quá trình thực hiện.

Từ thực tế ấy, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu xây dựng bộ chỉ số quốc gia về an sinh xã hội, đưa những gì người dân trực tiếp trải nghiệm vào thước đo chính sách. Điểm mới đáng chú ý trong định hướng về an sinh là cách đánh giá chính sách phải thay đổi. Có bao nhiêu người tham gia BHYT là một con số quan trọng. Nhưng sau con số ấy phải biết có bao nhiêu người được bảo vệ khi mắc bệnh. Có bao nhiêu người nhận trợ cấp cũng quan trọng. Nhưng cần biết họ có nhận đúng lúc không, thủ tục có khó không, sau khoản hỗ trợ ấy cuộc sống có bớt khó khăn không. Có bao nhiêu hồ sơ được giải quyết cũng chưa đủ. Cần biết người dân phải chờ bao lâu và phải đi lại bao nhiêu lần…