Mài đẹp

Đầu thế kỷ XX, những ông thầy Pháp đến Việt Nam thành lập trường Mỹ thuật Đông Dương (năm 1925). Họ mang theo cách nhìn, kỹ thuật, chất liệu và khoa giáo từ phương Tây xa xôi. Đương nhiên sơn dầu vẫn được coi là bộ môn chính. Nhưng không phải chỉ như vậy. Một vài họa sĩ đã tìm về sơn ta. Là loại chất liệu quen thuộc để chế tác các đồ dùng sinh hoạt hàng ngày: giường tủ, bàn ghế cũng như đồ thờ tự, hoành phi, câu đối, cửa võng, cuốn thư, v.v.

Tác phẩm Lò nồi thủ công của họa sĩ Kim Đồng, sáng tác năm 1958.
Tác phẩm Lò nồi thủ công của họa sĩ Kim Đồng, sáng tác năm 1958.

Sơn ta đã trở thành một chất liệu hội họa. Cách chế nền vóc thì vẫn vậy: gắn, đánh vải, bó, hom, lót, kẹt vét, thí. Sau đó vẽ lên, tất nhiên chất liệu nào kỹ thuật đó, dụng cụ đó, phương pháp đó và cái đẹp độc đáo của sơn mài chính là hiệu quả... mài. Mài ra, mài moi, mài lớp trước để lấp ló ra lớp sau, mài mỏng lớp sơn phủ để vàng bạc ẩn hiện... Mài để đẹp, đẹp do mài mà có.

Cây sơn không chỉ có ở Việt Nam mà còn được trồng và sử dụng ở phần lớn các nước châu Á khác. Nhưng đến thời điểm đó thì sơn ta vẫn chỉ được coi như một chất liệu hoàn toàn mỹ nghệ. Nhắc đến đồ mỹ nghệ làm bằng sơn mài của các nước châu Á phải kể đến đồ furniture đời Thanh ở Trung Quốc. Những chiếc tủ đựng kinh Phật bằng gỗ phủ sơn rồi vẽ trang trí lên bề mặt của Tây Tạng hoặc đơn giản chỉ là đồ dùng phục vụ ẩm thực, bát đũa, khay, chén, cốt tre hoặc gỗ tiện phủ sơn của Nhật. Bắt đầu từ đây, hội họa Việt Nam đã đưa ra một định nghĩa mới: Nghệ thuật sơn mài, Hội họa sơn mài.

Cùng với thời gian, nghệ thuật sơn mài hình thành và phát triển. Đã có nhiều tác giả lớn gắn liền với chất liệu này: Nguyễn Gia Trí (Phong cảnh nông thôn - 1939), Nguyễn Tư Nghiêm (Con nghé - 1957 và Gióng - 1990), Nguyễn Sáng (Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ - 1963), Dương Bích Liên (Chiều vàng - 1962 và Bác Hồ đi công tác - 1980), Nguyễn Văn Tị (Nhà tranh gốc mít - 1958), Phạm Hậu (Gió mùa hạ - 1940), Kim Đồng (Lò nồi thủ công - 1958), Trần Văn Cẩn (Tát nước đồng chiêm - 1958), Nguyễn Đức Nùng (Bình minh trên nông trang - 1958), Nguyễn Sĩ Ngọc (Tình quân dân - 1951), Trần Đình Thọ (Ra đồng - 1961), Phan Kế An (Nhớ một chiều Tây Bắc - 1955), Lê Thanh Trừ (Cuộc chiến sau 1975 - 2000).

Và những biến thể: sơn mài đắp nổi có Phạm Gia Giang với tác phẩm Hạnh phúc - 1940. Sơn khắc có: Nguyễn Khang (Ông nghè vinh quy - 1943), Huỳnh Văn Thuận (Thôn Vĩnh Mốc - 1958), Thái Hà (Rừng đước), Trần Chất (Mùa xuân Tây Nguyên - 1962), Mai Long (Cô gái Thái).

Sơn mài là một chất liệu truyền thống.

Hội họa sơn mài ngót 100 năm hình thành và phát triển đã là một truyền thống.

Sơn mài đã là một chất liệu bình đẳng với các chất liệu khác.

Hội họa sơn mài là duy nhất của Việt Nam.

6-2017