Lênh đênh chuyện học vùng biên

“Dạ, thầy lấy giùm con cặp vé số” - “Ủa, có đi học không mà kêu bằng thầy?” - “Dạ có mà” - “Nhưng hay bỏ phải không?” - “Con bận đi bán vé!”, thầy Bảo lựa một cặp vé cho thằng bé, rồi quay sang tôi bắt đầu câu chuyện về sự học ở một vùng biên giới Tây Nam Bộ này, thật lắm nhọc nhằn.
Lênh đênh chuyện học vùng biên

Cảm hóa những đứa trẻ “giang hồ”

Chọn một quán cà-phê, ngồi chưa ấm chỗ, đã có đến bốn, năm đứa trẻ bu lấy tôi và thầy Trần Ngọc Bảo, giáo viên Trường THCS - THPT thị trấn Tân Hưng (huyện Tân Hưng, tỉnh Long An), xòe ra những tấm vé số xanh đỏ trên đôi bàn tay gầy guộc đen nhẻm.

Hầu hết bọn trẻ lang thang này đều theo bố mẹ, người thân từ bên Cam-pu-chia về. Vì thế lớp học tình thương của thầy Bảo còn gọi là lớp “Trẻ Việt kiều”. Lặn lội từ TP Tân An lên huyện biên giới rồi gắn bó với vùng đất chua phèn, úng ngập này đã hơn mười năm, anh cùng các đồng nghiệp nếm trải đủ những khó khăn. Cách đây vài năm, khi trông thấy những đứa trẻ người Việt từ Cam-pu-chia sang bán vé số cứ ngày một đông, tất cả đều không biết chữ, thầy Bảo nảy ra ý “hay là mình gom chúng lại, dạy được chữ nào hay chữ đó”.

Đến tháng 10-2015, UBND thị trấn Tân Hưng phối hợp ngành giáo dục huyện chính thức tổ chức lớp học cho các em là con của những hộ Việt kiều từ bên kia biên giới về nước. Lớp học mở ngay tại Trung tâm Học tập cộng đồng thị trấn (thực chất là một căn nhà cấp bốn, trước đây là trụ sở khu phố, nay không dùng nữa). Bàn ghế, bảng đen thì thầy Bảo đi xin của các trường trong thị trấn. Nhiều cán bộ, thầy cô giáo và bà con địa phương hay tin cũng đóng góp, ủng hộ nào tập viết, cặp sách, quần áo cũ, sách cũ,… Ai có cái gì mang cho cái đó, cùng vun vén cho lớp học dần hình thành.

“Các em đến lớp ban đầu lác đác rồi đông dần, nhưng cũng thất thường, có khi đông có khi vơi vì còn bận đi làm thêm, bán vé số, bưng bê, rửa xe, rửa bát… Phải mất khá lâu các em mới chịu vào khuôn phép. Chứ như ban đầu thì lộn xộn lắm. Học sinh đủ mọi lứa tuổi, lại bởi quen sống nay đây mai đó, bám trên những chiếc đò rách nát nên chúng có máu “giang hồ”. Khởi đầu mỗi câu nói thường kèm những lời chửi thề, văng tục; ngồi cạnh nhau đánh lộn liên tục, thỉnh thoảng chúng kể tội nhau, toàn những chiến tích bất hảo. Tay cầm bút không quen, lóng nga lóng ngóng và luôn mồm “chết mẹ, rách tập rồi” mỗi khi các em tập viết”, thầy Bảo nhớ lại mà bùi ngùi.

Thầy Lê Thanh Hải lựa chọn mãi mới được một nhóm 12 em từ lớp 1 của thầy Bảo để cho lên lớp 2.

Dần dà, lớp cũng ổn định hơn. Hiện lớp có hơn ba mươi em theo học, trong đó, lớp 1 có gần hai mươi em, lớp 2 có 12 em. Chủ yếu học Toán và Tiếng Việt. “Mong chúng biết đọc, biết viết là tốt lắm rồi”, đó là câu trả lời thường gặp của không chỉ các thầy cô, mà cũng là niềm mong mỏi của cán bộ địa phương.

Thời gian gần đây, ngoài cố gắng của thầy Bảo, còn có thêm ba thầy cô tình nguyện chung tay lo duy trì lớp học. Đó là anh Lê Thanh Hải, công tác ở UBND thị trấn Tân Hưng, tham gia dạy môn Toán; chị Là Thị Thía, cán bộ Thư viện Tân Hưng cũng tham gia dạy chữ viết, đọc sách, kể chuyện lịch sử cho các em; anh Trương Văn Thùy, Phó Bí thư Đoàn Thanh niên thị trấn, dạy các em chữ viết và kỹ năng sống. Cứ thế, buổi đầu còn bỡ ngỡ, sau các em kháo nhau, rủ thêm bạn bè đến lớp ngày một đông.

“Ước mơ là cái gì ạ?”

Có một chuyện khiến thầy Bảo nhớ mãi là khi lớp đầu tiên học được sáu tháng, thời điểm ấy khả năng đọc viết của các em nhìn chung cũng tạm ổn. “Tôi thông báo với lớp là mỗi em sẽ được cấp một giấy chứng nhận hoàn thành xóa mù chữ. Các em sẽ nghỉ luôn nhường chỗ cho một lớp khác. Cả lớp im lặng. Rồi em Nguyễn Văn Nghé (15 tuổi), là “thủ lĩnh” của lớp nhưng bé choắt như trẻ 8 tuổi, đứng lên mắt đỏ hoe: “Thầy ơi, đừng đuổi học tụi con. Cho tụi con học lại chữ a, chữ bờ gì đó cũng được... Thầy cho tụi con học tiếp đi thầy, nghỉ học ở nhà buồn lắm!”.

Chẳng là, được đến lớp thì vui. Học là một chuyện, nhưng các em còn phải bươn chải tự lo cho cuộc sống của mình, lang thang cả ngày nơi đầu đường cuối chợ, nên chỉ mong mỗi cuối chiều được đến lớp, gặp thầy, gặp bạn.

Cả ba anh em Nghé cùng học ở đây. Giờ Nghé và em gái Mỹ Châu đã lên học chương trình lớp 2 của thầy Hải, cô em út là Mỹ Tho mới 5 tuổi thì đang học lớp 1. Em đang sống với bố mẹ và sáu anh chị em ở mãi bến kinh Trung Ương (con sông nhỏ chảy qua thị trấn Tân Hưng).

Buổi chiều đó, tôi đến lớp học, gặp Nghé và các em khác. 5 giờ mới vào lớp, nhưng các em đã có mặt khá đông từ 4 giờ. Rất tự giác, không ai bảo ai, người đến trước làm trước đến sau làm sau. Em lau bảng, em kê bàn, em quét nhà. Thấy các em láu nháu, nhỏ thó gầy guộc, tưởng đâu tuổi chừng lớp 1, lớp 2. Sau khi làm quen, hỏi chuyện, các em nói đã 9, 10 tuổi, thậm chí có bạn nói đã 16, 17 tuổi.

Không được may mắn như Nghé là còn được ở cùng bố mẹ, Nguyễn Thị Bích Liên năm nay 16 tuổi mới chỉ học lớp 2, đang ở cùng bà ngoại, “còn bố mẹ con vẫn chài lưới kiếm sống đâu mãi tận Biển Hồ, xa lắm”.

Khi hỏi các em về ước mơ, câu trả lời của Phan Thị Hiền, 11 tuổi, khiến tôi sửng sốt. Mắt em tròn xoe: “Ước mơ là cái gì ạ? Con không biết!”.

Hay như Nguyễn Văn Linh, 15 tuổi, đang phải chạy bàn quán cơm từ 5 giờ sáng đến 3 giờ chiều, mỗi tháng được triệu rưỡi tiền công. Nhà có ba anh em, bố mẹ cũng chẳng có nghề nào ổn định. Khi tôi hỏi em có ước mơ gì? Linh gãi đầu hồi lâu, “chắc là làm hớt tóc ạ”.

Có lẽ, đã nhiều năm rồi, các em quen với cuộc sống dạt trôi cùng gia đình trên kênh rạch theo mỗi mùa nước nổi, cơm không đủ no, áo chẳng đủ lành thì “ước mơ” thật đúng là điều xa xỉ.

Ấy vậy, các em được học là còn may mắn hơn nhiều em khác.

Cần lắm những tấm lòng

Qua tìm hiểu của chúng tôi, có rất nhiều hộ dân Việt kiều ở Tân Hưng sau khi dạt về từ Cam-pu-chia sống chủ yếu trên những con đò rách nát nơi mé kênh bờ rạch. Hầu hết các hộ đều không có bất cứ thứ giấy tờ tùy thân nào, cũng chẳng có nghề gì để mưu sinh ngoài chài lưới, hoặc ai có việc gì mướn thì làm.

“Họ chẳng ở đâu cố định, cứ lựa theo con nước lớn nước ròng mà nhổ neo kiếm con cá hoặc mót thóc, gặp việc ai cần gì thì làm nấy. Thậm chí đến gốc gác cha mẹ, quê hương, ngay cả năm sinh của mình cũng còn nhầm lẫn lung tung, chẳng nhớ. Vì thế mà chính quyền rất khó quản lý, càng khó giữ họ để nghĩ đến phương cách an sinh. Đời sống nổi trôi là thế thì sao mà các cháu được học hành đầy đủ” - Phó Chủ tịch UBND huyện Tân Hưng Huỳnh Thanh Hiền chia sẻ khó khăn. Anh Hiền cũng cho biết, huyện cũng đang xin ý kiến, hướng dẫn của cấp trên để tạo điều kiện cho các hộ dân này.

Phải khó khăn lắm, cán bộ huyện Tân Hưng và xã Hưng Hà mới rà soát, tổ chức cho 67 hộ dân (gần 300 nhân khẩu) sống rải rác dưới kênh lên bờ. Vài năm nay những hộ dân này được quần tụ trong xóm Việt kiều ở đầu ấp Hà Thanh. Ông Bùi Đăng Vùng, trưởng ấp, dẫn chúng tôi vào thăm xóm. Một xóm nghèo xơ xác, những cái lều tạm đúng nghĩa, sập sệ như không thể sập sệ hơn. Hầu hết người lớn đều không biết chữ, không có việc làm ổn định, các gia đình lại sinh đông con, khó khăn chồng chất; vì thế mà việc học của trẻ em ở xóm rất phập phù, buổi được buổi nghỉ.

Cả một dãy “nhà” hướng ra bờ kênh đều chung một lối “kiến trúc”: mái lá, tường quây tôn hoặc vách tre, nền đất. Lúc chúng tôi đến thấy gần như cả xóm đang tập trung ở nhà ông Nguyễn Văn Út, nhà anh Võ Văn Phát. Hóa ra, hôm ấy là ngày mà các hộ này khởi công, thuê thợ hút cát đổ nền làm nhà mới. “Nhà mới” chừng hơn chục mét vuông, chủ nhà khoe là được các nhà hảo tâm cho tiền để mua sắt khung và tôn quây làm tường, làm mái. Còn nền nhà thì do các hộ tự túc làm. “Được các nhà hảo tâm cho như vậy cũng là đỡ đần chúng tôi nhiều lắm. Mấy năm nay được chính quyền địa phương quan tâm, cả xóm chài được lên bờ. Mong sao qua ngày đoạn tháng, rồi cuộc sống sẽ khá hơn” - ông Út vừa tâm sự vừa cùng vợ xúc đất đổ nền.

Lúc chúng tôi trở ra xe, mấy cháu nhỏ mặt mày nhem nhuốc, nhớn nhác, đứa lớn lẽo đẽo cắp đứa bé chạy theo, miệng lí nhí: “Cháu muốn đi học cái chữ để lên thành phố làm thuê. Chú giúp cháu nhé!”.