Ký ức về một người cha

Ròng rã hàng chục năm trời, lớp lớp thanh niên trai tráng ra đi không hẹn ngày về vì sự vẹn toàn của giang sơn bờ cõi. Ký ức về một thời chiến tranh và mất mát đã và mãi là một giá trị lay thức, nhắc nhở những người đang sống hôm nay...
Những người lính từng bị địch tra tấn dã man bên những kỷ vật chiến tranh.
Những người lính từng bị địch tra tấn dã man bên những kỷ vật chiến tranh.

Tạm biệt quê hương, bố tôi vào quân ngũ. Ngay từ những ngày đầu bố tôi được điều động vào chiến trường B. Cũng từ ngày đó gia đình tôi không hề nhận được tin tức gì của bố. Năm tháng trôi đi cùng với cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt, giặc Mỹ điên cuồng leo thang bắn phá miền Bắc nước ta. Rồi một hôm gia đình tôi nhận được tin bố bị thương nặng đang nằm điều trị ở Quân y viện 7. Tối hôm đó, tôi theo những người thân trong gia đình đến thăm bố. Chúng tôi đi bộ qua những cánh đồng ngô đã trổ hoa, mùi hương của phấn ngô thơm mát tỏa khắp cánh đồng. Nhờ ánh trăng làm đèn, chúng tôi lần theo những bờ mương nhỏ gập ghềnh bước thấp bước cao, khó khăn lắm đến sáng mới đến nơi bố tôi ở.

Bố nằm trên chiếc giường cá nhân, toàn thân có nhiều vết thương rất nặng, dưới lớp da là lổn nhổn những mảnh đạn nằm sâu trong cơ làm teo đét các cơ gây liệt hai chi dưới. Bố tôi nằm yên, bình thản với ánh mắt sáng ngời của người lính đã làm tròn trách nhiệm của mình với đất nước. Gặp lại tôi bố mừng lắm. Bố ôm chặt lấy tôi kể cho tôi nghe về những chuyện ngày xưa, chuyện bố bị thương nặng và nhiễm chất độc da cam trong một trận chiến đấu oanh liệt và dũng cảm của các chú trong đơn vị bố và sự dã man tàn bạo của giặc Mỹ. Sau mỗi trận đánh, chúng lại cho máy bay rải dày đặc chất độc da cam để hủy diệt tất cả những gì còn sống sót. Ðơn vị thu dọn chiến trường của bộ đội ta đã tìm thấy bố trong tình trạng bị thương rất nặng và nhiễm chất độc da cam nên đưa thẳng bố ra Bắc về viện Quân y 7. Sau đó bố tôi mở ba-lô ra, tay run run cầm một chiếc dù xanh trao vào tay tôi rồi bố nói: "Bố không có gì, chỉ có chiếc dù xanh tặng con làm khăn để quàng cho ấm mỗi khi trời trở rét".

Sáng hôm sau bố tôi được đưa về Viện quân y 108. Hai ngày sau khi khám xong, các bác sĩ báo cho gia đình biết bố tôi có nhiều mảnh đạn trong người và bị nhiễm chất độc da cam rất nặng, cơ thể quá yếu không thể phẫu thuật để lấy các mảnh đạn trên cơ thể ra được. Sự sống của bố chỉ còn tính tháng ngày. Biết tin này cả nhà tôi khóc thảm thiết, còn bố tôi rất bình thản, động viên an ủi mọi người: "Tôi còn may mắn hơn rất nhiều đồng đội của mình là trước khi chết còn được gặp lại người thân".

Ngày hôm sau bố tôi được đưa trở lại Viện quân y 7, tôi và bác thường xuyên trông nom bố. Trong những ngày cuối cùng này, dù phải nằm yên trên giường không đi lại được, vết thương gây đau đớn nhức nhối nhưng bố vẫn luôn vui vẻ, động viên, an ủi và dặn dò tôi: "Bố sắp đi xa rồi, con phải thương mẹ và cố gắng học hành chăm ngoan". Một hôm bố bảo với bác tôi: "Mấy hôm nay em thấy trong người khỏe hơn, anh cho cháu về quê thu xếp ổn thỏa công việc gia đình rồi xuống với em sau". Tôi và bác về quê hẹn bố ba ngày sau sẽ trở lại. Hôm sau, tối ngày 17-10-1972, đơn vị của bố tôi về báo tin bố đã qua đời. Lúc này tôi mới hiểu bố tôi đã biết cái chết đang đến với mình chỉ còn là giây phút cuối cùng nên bố đã khéo động viên để tôi và bác về quê. Bố không muốn cho tôi và bác phải đau lòng trước lúc bố đi xa. Tôi có ngờ đâu rằng đó là lần cuối cùng tôi được xà vào lòng bố được nghe giọng nói thân thương, được âu yếm, an ủi vỗ về để rồi mãi mãi tôi không còn được gặp bố nữa. Cả cuộc đời tôi chỉ được sống bên bố hơn hai tháng trời, thời gian tuy có ngắn ngủi nhưng nó là một kỷ niệm sâu sắc nhất của cuộc đời tôi.

 Tối hôm đó, tôi và một số người thân trong gia đình theo xe của đơn vị đi đón bố về quê. Cuộc chiến tranh ngày một thêm ác liệt hơn, giặc Mỹ tiếp tục đánh phá miền Bắc nước ta. Ðể bảo đảm an toàn cho các đồng chí thương binh, Viện quân y 7 được sơ tán về vùng núi huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Ðêm đó cuối thu đầu đông, trời se lạnh, những vạt cỏ hai bên mặt đê ướt đẫm sương đêm. Xa xa lốm đốm vài vì sao lấp lánh. Thỉnh thoảng lại có tiếng gà gáy trong đêm. Chiếc xe cứ nặng nề chậm chạp đi qua sông rồi đến núi. Mọi người im lặng chẳng ai nói với ai câu gì, thỉnh thoảng lại có tiếng khóc sụt sịt của những người thân trong gia đình tôi. Ðến gần sáng, chúng tôi đến huyện Kinh Môn nơi bố tôi sơ tán ở đó. Trước mắt chúng tôi là mấy ngọn núi đứng sừng sững, sương mù ôm quanh mờ mờ ảo ảo, không khí lạnh lẽo, núi rừng vắng lặng. Bố tôi không còn ở đó, chúng tôi trở về trụ sở UBND xã. Ở đó đang diễn ra lễ truy điệu cho bố tôi. Sau một hồi lâu, bố tôi được đưa về nghĩa trang liệt sĩ quê nhà...

Chiến tranh đã kết thúc mấy chục năm rồi, nhưng tôi không bao giờ quên được nét mặt bình thản của một người lính trước khi đón nhận cái chết đang đến với mình từng ngày từng giờ ở cái tuổi ba lăm đang tràn trề sức sống, đầy hoài bão và lòng nhiệt huyết. Họ đã cống hiến hết mình cho Tổ quốc, không hề đòi hỏi, không hề nuối tiếc. Gia tài sau mười năm trở về là một chiếc dù xanh và hàng chục mảnh đạn găm trên thân thể cùng với chất độc da cam đã cướp đi sự sống của họ, nhưng đến giây phút trước cái chết họ vẫn bình thản, dũng cảm, hiên ngang không hề run sợ. Sự hy sinh thầm lặng đó đã nuôi lớn và thôi thúc chúng tôi phải sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh cao cả của những con người đã quên mình cho độc lập tự do, cho sự bình yên của dân tộc.