Từ hợp tác buổi ban đầu...
Ngồi trước cái lò sưởi nổi tiếng trong phòng Bầu Dục Nhà Trắng sau cuộc hội đàm với Tổng thống Mỹ B.Obama kéo dài quá thời gian dự kiến tới nửa giờ đồng hồ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mở lời với các phóng viên quốc tế đang vây kín chung quanh: “Hai mươi năm trước, có mấy ai lại nghĩ rằng sẽ có một cuộc gặp thú vị giữa Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam với Tổng thống Hoa Kỳ ở Nhà Trắng!”. Đúng thế. Chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng trong những ngày đầu tháng 7 vừa qua đã mang lại không ít ngỡ ngàng cho giới quan sát quốc tế.
Ngỡ ngàng cũng phải thôi. Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ có lẽ là một trong những mối quan hệ quốc tế kỳ lạ nhất trong đời sống chính trị quốc tế thế kỷ 20.
Hãy bắt đầu từ lịch sử gần gụi ngay trong những ngày trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 dẫn tới sự ra đời của nước Việt Nam độc lập. Biệt đội Con Nai, một toán đặc nhiệm của Cục phục vụ chiến lược Mỹ OSS, tiền thân của CIA sau này, đã nhảy dù xuống chiến khu Việt Bắc để giúp - huấn luyện, đón các chuyến tiếp tế trang bị vũ khí - cho những người Việt Minh trong cuộc chiến chống phát-xít Nhật. Phải chăng chính vì vậy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt tên cho lực lượng hỗn hợp Việt - Mỹ ở chiến khu của Việt minh khi ấy là “Bộ đội Việt - Mỹ”!
Tầm nhìn xa của nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc chỉ thị cho các cán bộ Việt minh dưới quyền mình cứu sống, chăm sóc cẩn thận viên trung úy phi công William Shaw bị phát-xít Nhật bắn rơi máy bay, phải nhảy dù xuống vùng chiến khu Việt minh ở Cao Bằng, điều không nghi ngờ gì nữa đã dẫn tới những hợp tác ban đầu của OSS với Việt minh và việc cử tới biệt đội Con Nai sau này; tầm nhìn xa của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở chỗ ngày 28-2-1946, đích thân Chủ tịch của nước Việt Nam mới đã viết một bức thư bằng tiếng Anh gửi tới Tổng thống Mỹ Harry Truman khi ấy, trong đó lấy danh nghĩa Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đề nghị Mỹ ủng hộ nền độc lập của nhân dân Việt Nam và can thiệp để đàm phán với Pháp trên cơ sở hai Hiến chương Đại Tây Dương và San Francisco được ký trước đó.
Tiếc thay, nước Mỹ khi ấy còn bao bận bịu với những công việc sau chiến tranh thế giới thứ hai và bắt đầu bước vào cuộc chiến tranh lạnh với những người cộng sản nên đã bỏ lỡ một cơ hội. Sự bỏ lỡ đáng tiếc này đã phải trả giá bằng cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài gần hai mươi năm, để lại những di chứng nặng nề cho cả hai bên.
Phía Việt Nam là hàng triệu người ngã xuống trong cuộc chiến giành độc lập và giải phóng đất nước, hàng trăm nghìn người còn mất tích chưa tìm thấy hài cốt, là bóng dáng tử thần vẫn ngày đêm rình rập trong những vật liệu nổ, bom mìn chưa được tìm thấy hay những dấu vết hiểm ác của chất độc da cam dioxin nơi cơ thể của các cựu chiến binh và con cháu họ...
Phía Mỹ là bức tường đá đen ở Washington ghi tên hơn 58.000 người Mỹ đã tử trận ở Việt Nam, là hồ sơ những người Mỹ mất tích trong chiến tranh chưa được giải quyết, là “hội chứng chiến tranh Việt Nam” nặng nề ở các cựu chiến binh và gia đình quân nhân Mỹ...
Việt Nam - Hoa Kỳ ký thỏa thuận hợp tác dầu khí.
| Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam luôn tuân thủ nguyên tắc không liên minh với một nước để chống một nước thứ ba và chắc chắn cũng không muốn biến mình thành một “tiền đồn” nào đó để chống lại một quốc gia nào khác. |
... Đến sự can đảm vượt qua những bức tường vô hình
Có lẽ vì tất cả những điều đó mà quá trình bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ đã phải trải qua những chặng đường gian nan hơn, dài lâu hơn nhiều so với điều người ta có thể hình dung.
Nhiều người đã ngạc nhiên so sánh khi Mỹ và Nhật Bản, vốn là hai kẻ thù không đội trời chung trong cuộc chiến sống mái thời chiến tranh thế giới thứ hai, lại có thể bình thường hóa quan hệ nhanh chóng đến vậy. Hơn thế nữa, Mỹ còn trở thành nhà bảo trợ chính cho tiến trình tái thiết lại nước Nhật hoang tàn sau chiến tranh.
Vậy mà vì sao giữa Mỹ và Việt Nam, vốn cũng là “cựu thù”, lại phải mất nhiều thời gian đến vậy để có thể có được một mối quan hệ bình thường như giữa các quốc gia văn minh?
Câu trả lời có lẽ nằm ở sự khác biệt chính: trong chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ là bên chiến thắng, còn Nhật Bản là nước bại trận. Còn sau cuộc chiến tranh Việt Nam thì vai trò đã bị đảo ngược. Sự nhức nhối trong lòng nước Mỹ về một cường quốc đã chiến bại trong cuộc đấu với một dân tộc nhỏ bé bên kia Thái Bình Dương không dễ gì có thể nguôi ngoai trong một sớm một chiều. Vả lại, trong những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước ấy, vẫn sừng sững những bức tường vô hình chia cắt hai thế giới Đông - Tây; những nghi kị hằn thù của một thời không dễ dàng xóa bỏ đi được.
Thế nên, nói như cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton, người đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong quyết định xóa bỏ cấm vận và tiến tới bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ thì ở vào thời điểm ấy, những người Mỹ nào nói đến chuyện thiết lập bang giao bình thường với Việt Nam bị coi như “điên rồ”.
Nhưng thực tế lành mạnh và lý trí tỉnh táo có những lý lẽ riêng và sức mạnh của nó. Quá trình hai nước tiến lại gần nhau thật ra đã bắt đầu từ những người Việt Nam bình thường lội bùn tỉ mẩn đi tìm từng mảnh xương hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh để đem trao trả cho gia đình họ; là những bước đi dò dẫm ban đầu của cả hai phía nhằm trước hết là xây dựng lòng tin về điều lẽ ra phải xảy ra từ lâu: bỏ lại quá khứ đau buồn lại phía sau để cùng nhau hướng về phía trước.
Để vượt qua được những cái ngưỡng ban đầu đầy khó khăn ấy, những người mở đường phải có sự can đảm và tầm nhìn xa nhất định. Và đến khi ngay cả Thượng nghị sĩ John McCain, từng là phi công trong chiến tranh Việt Nam và bị bắn rơi phải nhảy dù xuống hồ Trúc Bạch ngay giữa Thủ đô Hà Nội, cũng trở thành một trong số những người tích cực nhất trong việc thúc đẩy tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ, thì không có lý gì để tiến trình đó không từ “điên rồ” trở thành “bình thường”.
Cho đến khi Ngoại trưởng Mỹ Warren Christopher cắt băng khai trương Sứ quán Mỹ ở số 7 Láng Hạ, Hà Nội trong một buổi sáng mưa lâm thâm tháng 8-1995, đồng thời với lá quốc kỳ Việt Nam được kéo lên ở Sứ quán Việt Nam tại Washington, quá trình đó được hiểu là “tất yếu”.
Dệt may là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào Mỹ.
| Như một biểu tượng, Mỹ chính thức tôn trọng và công nhận thể chế chính trị Việt Nam với toàn bộ những khác biệt của nó. |
Từ “cựu thù” trở thành đối tác toàn diện
Hai mươi năm trôi qua như một cái chớp mắt của lịch sử, nhưng đối với quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, đó là một chặng đường dài, với những bước tiến triển không thể phủ nhận. Quan hệ giao thương, như mong đợi của những người mở đường bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, đã có những bước nhảy vọt với kim ngạch thương mại song phương đạt 36 tỷ USD năm 2014 so với 451 triệu USD năm 1995. Việt Nam đã vượt qua Malaysia và Thái-lan để trở thành nhà xuất khẩu hàng hóa đứng đầu ở Đông-Nam Á vào thị trường Mỹ. Với 17.000 sinh viên, Việt Nam cũng là nước đứng đầu trong số các quốc gia Đông-Nam Á về số lượng sinh viên đang theo học ở Hoa Kỳ. Mỹ cũng đã dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam...
Bước tiến quan trọng trên tiến trình thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã đến vào tháng 7-2013, trong chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, khi hai nước thiết lập quan hệ đối tác toàn diện. Từ hai “cựu thù”, giờ đây hai nước trở thành đối tác trên tất cả các lĩnh vực.
Lẽ dĩ nhiên, trong quan hệ quốc tế, Việt Nam luôn tuân thủ nguyên tắc không liên minh với một nước để chống một nước thứ ba và chắc chắn cũng không muốn biến mình thành một “tiền đồn” nào đó để chống lại một quốc gia nào khác.
Chính quyền của Tổng thống Barack Obama, trong gần hai nhiệm kỳ qua, đã làm không ít việc chưa từng có tiền lệ. Thiết lập quan hệ ngoại giao với Cu-ba sau hơn nửa thế kỷ thù địch là một điển hình. Việc tiếp đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Nhà Trắng lại là một điều chưa từng có tiền lệ khác, nhưng hết sức đặc biệt, bởi vì đó là người đứng đầu một đảng Cộng sản. Nói cách khác, như một biểu tượng, Mỹ chính thức tôn trọng và công nhận thể chế chính trị Việt Nam với toàn bộ những khác biệt của nó.
Nhưng chắc chắn là chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ và hội đàm với Tổng thống B.Obama của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không tự giới hạn chỉ như một biểu tượng của mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ sau tròn hai mươi năm bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Khẳng định một mối quan hệ “sâu sắc, lâu bền và thực chất”, trong cuộc gặp ở Nhà Trắng, hai nhà lãnh đạo đã bàn thảo trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt chú trọng vào quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại mà việc nhanh chóng hoàn thành đàm phán để ký Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một trọng tâm. Theo ước tính của một số nhà nghiên cứu, nếu TPP được ký kết có thể giúp kinh tế Việt Nam tăng trưởng 10% trong vòng 10 năm tới. Một kết quả như vậy, xứng đáng để coi rằng chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một sự kiện mang tính lịch sử trong quan hệ giữa hai nước nằm hai bên bờ Thái Bình Dương.
*
* *
Trong bài phát biểu ở Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) tại Washington, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trích câu nói nổi tiếng của Tổng thống Hoa Kỳ Theodore Roosevelt: “Khi tin là có thể, thì bạn đã đạt được một nửa thành công”. Hai mươi năm trước, những người mở đường cho bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ hẳn đã tin rằng việc thiết lập mối quan hệ đó sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nước và họ đã thành công.
Bây giờ, ở thời điểm hai mươi năm sau, khi nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có thể ngồi nói chuyện với Tổng thống Mỹ ở phòng Bầu Dục, hẳn là niềm tin về một tương lai tươi sáng cho quan hệ giữa hai nước trong tương lai lại tiếp tục được xác lập và khẳng định. Và như thế, thành công trong việc tiếp tục củng cố quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là điều hoàn toàn có thể nhìn thấy trước từ chuyến thăm lịch sử này.
Ảnh trong bài: Nguồn các báo nước ngoài