Hôm ấy trời trong, Tuyết Liên cùng mẹ khơi thuyền ra hồ hái sen. Nắng rơi từng giọt sánh vàng như mật trên mảng lưng trần. Yếm thắm. Lúc gót sen vừa bén cửa, hai chàng thư sinh mắt ngây dại. Lại thêm hương trà vấn vít khiến hồn say, thấy mộng nghiêng nghiêng. Kim Tích nâng chén lên bằng vẻ trân quý mà rằng: Từ tấm bé, tôi chưa từng được thưởng qua thứ trà nào thanh đạm đến vậy. Tuyết Liên vừa tách nhụy sen bên thềm, cánh mỏng rơi, màu mênh mang, hương quện đặc, tưởng chừng như có thể dùng tay mà hớt: Nghề sen, cũng lắm công phu, ướp được hương rồi nhưng còn phải biết cách hãm trà sao cho đủ độ. Vị trà thanh, lại có cả lộc trời trong đó.
Hoàng Kim Tích: Kẻ học trò vốn hiểu biết còn nông cạn, xin hỏi nàng, có tất thảy bao nhiêu loại trà thượng hạng được chế từ sen? Tuyết Liên mặt bình thản, gạo sen vẫn rơi đều đều dưới tấm lá xanh biếc: Trước giờ tôi được biết, có tất thảy bốn cách ướp trà sen. Mộc liên hoa; Thủy liên hoa, Nhật sương trà. Mộc liên hoa, gạo sen được rải trên lá chè xanh ủ bên ngoài, sau ba ngày ba đêm khi hương sen đã đượm mới sao lá chè. Thông thường các nhà dân, tự cung tự cấp thì hay dùng Thủy liên hoa. Vừa thanh nhã vị đượm khó phai. Chè đã sao, được bọc trong bông sen mới nở, bên ngoài buộc nút. Hương ủ qua đêm, sáng ra tách nụ mà lấy về hãm. Nhật sương trà, có đủ cả sương gió trăng mây, búp chè được ngậm đủ gạo sen, được kết bằng những sợi tơ trời qua một đêm. Nhưng cách này ít dùng, vì phải lựa tiết trời và theo mùa vụ.
Tuyết Liên dứt lời, bối rối nhìn Kim Tích - kẻ học trò thần sắc thông minh, mắt như thông tỏ nỗi lòng nàng. Tôn Thất Bá lúc này mới lên tiếng: Thế còn cách thứ tư, xin hỏi nàng... Liên khoe mỉm cười rồi liếc về phía cuối đầm sen nơi thầy mẹ cô còn đang khơi nước. Phó Quang đỡ lời thay em gái: Cách này trước nay thầy không cho chúng tôi được nhắc đến. Vốn là cách tàn độc, và không được thanh cao. Bá cười: Chúng tôi vốn học trò, muốn hiểu cội gốc chứ cũng không có ý học nghề, anh đừng ngại. Phó Quang: Thực ra đó là cách dùng máu người để hãm trà. Huyết liên hoa hay còn gọi là máu của sen. Chè xanh đã sao tròn búp rải trên chiếc mâm đồng, chưa hây hây nguội, được tráng qua một lớp máu tươi, búp chè quánh lại. Sau đó hãm bằng nước được lấy từ những giọt sương đọng trên lá vào những đêm trăng tròn. Đó là thứ vị ma mị nhất thế gian. Cũng vì tính ác mà sau này bị thất truyền, và không dùng nữa.
Hoàng Kim Tích: Đúng là chữ thanh đi với chữ tiện. Cũng may là cách này giờ không ai dùng. Tôn Thất Bá không nói gì, đăm đăm nhìn về phía Tuyết Liên. Ánh nhìn rất lạ.
Cuộc đàm đạo đến tối sẫm mới tan. Ra về nhưng lòng quân tử dường như đã thầm yêu trộm nhớ. Về sau Tôn Thất Bá xin thầy chuyển về đình Yên Xá học chữ, cốt để tiện đường đến nhà Tuyết Liên. Đôi lời ướm hỏi, dao duyên tình tứ nhưng Tuyết Liên vẫn làm thinh, thấy lảng sang chuyện khác. Mấy lần trong cuộc chuyện trò lại hỏi chàng thư sinh họ Hoàng. Trong lòng Bá nổi lên cơn giận, nhưng vẫn giằn lòng. Hai quý sau, Bá đưa cau trầu đến đính ước, nhưng Tuyết Liên từ chối. Boe bàng, mặt Bá tím ngắt, ngậm ngùi trở về, thầy mẹ đay nghiến xỉ vả. Trong lòng nảy sinh uất hận. Đêm Ba mươi, trời tối thăm thẳm, Tuyết Liên mang chè vào thành về đến rìa đầm Thanh Uy thì bị kẻ gian trùm bao tải quá đầu bế thốc đi. Biết mình không tránh khỏi bị làm nhục. Tuyết Liên đã cắn lưỡi quyên sinh, lúc kẻ gian kéo bao tải ra đã thấy nàng chết. Thây nằm chơi vơi trên cỏ, sương phủ trên người bằng cánh sen.
Sau này Tích đỗ bảng vàng, được phong quan lấy hiệu là Hoàng Diệu, hưởng lộc vua, bận việc nước, bẵng đi mấy năm không gặp. Nhưng bụng vẫn đinh ninh nỗi nhớ miền Liên Hoa. Được tin Tuyết Liên chết, Tích đi thất thểu dọc bên bờ sen. Đến chỗ Tuyết Liên nằm, bỗng nhiên một bông sen gẫy ngang thân. Tích tuôn dòng lệ mà than.
★
Đất giời có biến. Nhâm Ngọ. Gấu ăn trăng.
Nhìn lên thấy trăng chảy máu. Khắp nơi tiếng trống, tiếng chậu, tiếng la hét ầm ào dưới đất. Người đời gọi là tục giữ trăng. Nguyệt đã mất quá phân nửa, đàn bà xô ra sân, thấy cụ Phó đứng bất động thì nghếch mặt lên giời mà hỏi. Có đuổi không? Cụ khoe lắc đầu. Không kịp nữa. Rồi cụ gọi người con cả là Phó Thành Minh vào trong am ướp chè, bảo đóng cửa lại. Đàn bà họ Phó nhìn nhau, trong lòng nung lắm.Một tuần nay, thấy thuyền bè ngoại quốc dập xuôi ngược các bến Chanh, Bến Lượng, ta thấy không yên. Trong thành chắc sắp có biến, nay nhìn đất giời ứng mệnh, gấu cắn xé trăng, máu tưới ướt dân gian. Làng nghề này cũng lụy. Việc cấm công thương đã gót được hai tuần, mà xem chừng chưa mong tới ngày mở cửa. Cụ Phó khêu bấc đèn dầu, ánh sáng tỏ rạng. Minh nhìn thầy ngồi so lại rất thiểu não. Dạo này không thấy Ngài qua thưởng trà? Minh buột miệng hỏi. Việc nước đang rối như tơ vò, hỏi có lòng nào mà thưởng ngoạn. Quân cờ đen đã căng buồm tiến sát sông ta, e tây tàu kết bè vận nước tất khó lòng giữ vững. Nay ta gọi con xuống là muốn con giúp ta một việc.
Sáng hôm sau Minh cắp tay nải ra khỏi nhà, trời còn chưa tảng sương, hai bên đầm sen đã bắt đầu lụi nhìn rất tiêu điều.
★
Lại nói việc trong thành, sớ dâng lên đã ngót được hơn hai tuần nhưng vẫn không hồi đáp. Nghe phong thanh thấy bảo vua không ưng, việc phòng chống giặc chưa cần thiết, ứng phó phải mềm mỏng. Tình thế đang bất lợi, nếu huy động quân binh, e sinh nghi hoặc lòng giặc. Nếu chúng không có lòng phản ước, cũng sẽ vin vào cớ này mà dấy binh.
Nửa đêm có lệnh, Tổng đốc Hà Ninh vời gọi tất cả quan văn quan võ trấn tại thành vào họp bàn cơ mật. Lửa đốt sáng sân, mười hai khuôn mặt toát vẻ tinh anh, dũng mãnh. Hoàng Diệu đi lại một hồi, tháng nay vò gối suy xét việc nước thân thể ông suy nhược đi nhiều. Hà Thành là yết hầu của Bắc Kỳ, cũng là nơi then chốt. Giữ được thành là giữ được nước, mất thành rồi, chẳng khác nào người bị cắt đầu. Nay giặc đã tiến sát sông bến chanh, Hà Thành đang bị uy hiếp. Nay ta vời các quan đến đây để mưu sự, mỗi người một cách ứng biến giữ vận nước. Giặc mạnh nhưng chí ta kiên thì tất mình sẽ thắng.
Sau một hồi Tôn Thất Bá mới thưa, lúc này Bá đã lên đến chức án sát. Trong ánh lửa, lông mày Bá chau lại nhìn mắt nhỏ hẹp mà rất lanh. Thưa Tổng đốc, tôi thiết nghĩ hiện thời quân địch mạnh, bu dầy như kiến cỏ, vốn cậy súng tây nổ súng vang. Nếu chỉ dựa vào sức mấy tỉnh thành e khó bề chống đỡ. Một mặt nên ra sức xin triều đình Huế viện binh ra, mặt khác tập hợp binh sĩ trong thành mài gươm luyện võ, tăng quân ở các chốt quan hiểm. Sau khi trên dưới đồng lòng, hoạch định cách chống giặc. Hoàng Diệu suy nghĩ một hồi rồi nói: Lúc này phải dựa vào lòng dân, lương thực dự trữ trong thành một tháng nay sắp cạn, không biết nếu giặc vây sẽ bám trụ được mấy ngày.
Nửa đêm. Mưa xối từ trên thành xuống ào ào như thác đổ. Trận mưa hiếm gặp ở tiết đông xuân.
Canh ba đêm vắng, vừa chợp mắt được một lúc thì Diệu mơ, thấy trong ngoài thành ngập lửa.
Người con gái không nhìn rõ mặt, kéo tay Diệu, vừa đi vừa nói bằng tiếng khẩn nài "Ngài mau đi đi, mau đi thì còn kịp. Lửa liếm hết Hà Thành rồi". Chạy ra đến cửa thành thì nước dâng mỗi lúc một cao, ngập tới lưng lưng bụng. Cúi xuống thấy một màu tối thẫm, có mùi của máu. Tiếng gào thét, tiếng súng. Người con gái bị ngập trong nước, nổi lềnh phềnh dạt vào gốc đa trước cửa thành. Lúc này mặt người con gái bị ướt một nửa, chỉ nhìn thấy nghiêng nghiêng. Tuyết Liên. Diệu nhích từng bước đến thì không thấy người vừa nãy. Tĩnh tâm lại thì nghe tiếng đàn tì bà. Ai gẩy đàn vào lúc nửa đêm? Diệu tiến về phía thành, thấy bóng trắng mờ dần. Có chăng là kẻ hát dạo đêm? Tiếng hát còn rề rà như khúc đưa tang vọng lại.
Ai oán ai lầm lạc?
Ơi hời! Ai oán ai lầm lạc?
Thế thời thời thế!
Tổng đốc tỉnh giấc, thấy mình đẫm mồ hôi. Ngài đến bên án thư, khơi đèn rồi viết thư cho người bạn tâm giao, vốn là nhà quý tộc dư giả trong thành có thể tin cậy. Phó Thành Quang. Thư vừa là tâm giao vừa là việc nước. Thếp giấy dầy dặn giao cho quân lính đưa đến nhà họ Phó.
Tảng sáng thì có người gọi cửa. Cái lạnh của xứ miệt kinh kỳ, khiến đất giời vò võ. Cả nhà thất kinh. Tên lính vừa đưa thư cho cụ Phó xong lại tất tả đội mưa về. Phó vào thư phòng mở thư đọc, thấy tay run, vẻ mặt đăm chiêu. Vậy là vận trời như dự liệu, phen này đất kinh kỳ lại một phen binh biến. Cụ hối người quản gia già kê khai ngân sách dồn phân nửa số tiền mua lương thực chuẩn bị đưa vào Thành.
(Còn nữa)