Vườn nhà chú là vườn của ông bà để lại, toàn cây to, khó bẻ, thuê người bẻ cũng chẳng ai nhận. Chú đành bảo mấy anh em trong nhà bẻ hộ. Trèo leo thế nào, chú bị ngã. Kết quả là chú bị chùn hai đốt sống lưng, gãy một xương sườn. Nghe tôi kể tai nạn của chú Tám, bà tôi rùng mình. Bà ra hiên đứng, ngửa cổ nhìn cây vải dưới ánh trăng vàng nhạt. Tôi chẳng biết bà đang nghĩ gì, chuyện nhà tôi bẻ vải hay chuyện chú Tám hồi chiều. Lúc tôi ngáp ngắn ngáp dài định leo lên giường ngủ, thì nghe bà bảo bố tôi:
- Mai mượn cưa về mà cưa hạ xuống.
Nói rồi, bà quay vào ghế ngồi lấy cối giã trầu. Tôi ngủ lúc nào chẳng hay, nửa đêm, quơ bên mình chẳng thấy bà đâu, giật mình ngồi dậy, bà vẫn ngồi ở ghế, miệng mệt mỏi nhai trầu, mắt hướng về tấm ảnh thờ của ông.
*
* *
Bố tôi về, chưa kịp xuống xe mọi người đã hỏi:
- Ðược bao nhiêu?
- Ba ngàn. Tám chục cân được hai trăm tư.
Bà tôi ngồi trên hè, nhìn lên cây vải giờ chỉ còn trơ lại những cành cứng đơ đâm tua tủa lên trời, đôi mắt mờ đục. Mấy chục năm chăm bón, vun xới mới được cái thân cây như thế, vậy mà chỉ trong buổi sáng, cái tán xanh um, xòe rộng biến mất chỉ còn lại những cành rêu mốc trơ ra dưới cái nắng bỏng rát.
- Bẻ cả buổi sáng được gần tạ vải có đủ bữa cơm này không? - Chú Thơi vừa cười vừa nói.
- À. Vừa đủ hai con vịt còi. - Bố tôi khì khì cười.
Mẹ tôi chen vào:
- Hôm trước em bán con gà còn được hai trăm rưỡi đó.
Mọi người rôm rả trò chuyện. Toàn là chuyện quanh xóm, quanh làng. Vui có, buồn có. Nhưng chung quy lại, chuyện gì cũng vẫn là xoay quanh quả vải. Nào là chuyện nhà ông Năm bẻ vải mãi xóm bãi, ở nhà mưa trôi cả sân thóc. Nào là chuyện nhà bà Làn không có ai bẻ, cứ mặc cho vải chín rụng, bóc cho gà ăn. Rồi chuyện Bà Nguyệt bán được trăm ngàn tiền vải thì suýt lạc mất con gà cái đang đẻ trứng...
Người ta bắt đầu phá vải từ mấy năm nay. Ðáng kể khoảng mươi, mười lăm năm về trước thì ở đây, đi tới đâu cũng là những vườn vải xanh um. Cứ đến mùa, thương lái bên Phạm Xá sang mua rất đông. Thậm chí người ta còn mua trước từ lúc quả mới bằng đầu ngón tay út. Những năm trước dì tôi còn hay đi chợ Hải Phòng. Cứ đến mùa vải, tôi lại phụ dì đi bẻ quả quanh xóm. Có lần dì mua vải nhà cụ Thêm, phải bồi thường cho cụ năm mươi ngàn đồng chỉ vì chú không may làm gãy một cành nhỏ bằng nửa cổ tay. Năm nay, nói đến vải vóc, ai cũng lắc đầu ngán ngẩm. Bỏ rụng thì xót, bẻ bán chẳng bõ công, lại mất thời gian. Người ta rủ nhau phá vải. Vườn nhà thì cưa ngọn, để cành thấp xuống, sang năm có quả ăn cho vui. Vườn đồng, vườn bãi thì đánh bật cả gốc để rồi trồng gừng, đỗ... Nhà tôi cũng bật hết gần ba chục gốc vải ngoài vườn. Bốn sào vải xanh um, loáng cái đã trơ ra phơi mình dưới nắng bỏng rát.
Hôm trước anh Hai bảo bố tôi:
- Bố ạ, sang năm thế nào vải cũng được giá. Con nghe nói người ta thành lập hiệp hội vải thiều Thanh Hà rồi.
Bố chậc lưỡi:
- Ờ! Tao nghe nói người ta còn thành lập hiệp hội sản xuất và tiêu thụ vải Thanh Hà từ mấy năm trước rồi kia. Sao vẫn cứ được mùa thì rớt giá?
Vốn cũng định bảo bố đừng phá vải, cứ để đó thế nào chả có lúc tìm ra hướng đi, nhưng nghe thế, anh chẳng biết nói gì nữa. Nhưng những gì bố nói cũng là sự thật bày ra trước mắt. Không ít lần anh và bố tranh cãi về chuyện để hay phá. Mấy năm trước anh còn khăng khăng khẳng định rằng, anh sẽ tìm được cho vải Thanh Hà một lối đi thênh thang. Mấy năm trôi qua, anh đã thử nhiều cách nhưng vẫn chưa chứng tỏ được gì. Có lần anh bảo tôi, anh liên hệ được với người bên Hàn Quốc, người ta đồng ý nhập khẩu vải của mình với số lượng lớn, giá thành tương đối cao, nhưng bên mình phải chịu trách nhiệm đóng gói và bảo đảm chất lượng sản phẩm. Nông dân mình thì nghèo, bán quả vải chẳng được bao nhiêu, làm gì có vốn đầu tư đóng gói để bảo đảm sang tới bên đó vải vẫn tươi ngon được. Họa chăng chỉ có vải sấy thôi.
Anh chuyên làm thiết kế web cho các công ty. Anh cũng đã tự thiết kế một trang web riêng cho vải Thanh Hà. Quảng bá, giới thiệu... nhưng cũng chẳng thay đổi được gì. Thỉnh thoảng anh lại giục tôi viết bài về vải nhà mình đi. Tôi ậm ừ rồi cũng viết. Người vào xem trang web cũng nhiều. Ý kiến bình luận, chia sẻ của mọi người chẳng ít. Xong hầu như toàn là sự thương cảm dành cho bà con nông dân, sự xót xa cho quả vải có tiếng là đặc sản. Chẳng thấy ý kiến nào là của các nhà chức trách cả. Vải Thanh Hà vẫn cứ mỗi năm một mùa đỏ rực.
Thấy anh em tôi tối nào cũng chúi vào cái máy tính mở ra xem trang web vải Thanh Hà, bố tôi sốt ruột bảo:
- Mày có viết thì viết cho bố một bài với cái nhan đề là: "Cứ đà này ba năm nữa vải Thanh Hà sẽ được giá cao".
Tôi ngoảnh lại, cười cười. Bố không cười, ông châm lửa rít thuốc lào, chầm chậm nhả khói, rồi lại bảo:
- Mà cái nhan đề ấy, mày đặt dấu hỏi thật to vào cho bố!
- Ðể hỏi ai thế hả bố?
- Hỏi ai à? Ừ, thì hỏi chơi vậy thôi. - Bố phẩy tay - Ðộng đến ai người đó tự trả lời.
Hai anh em tôi ngồi im. Chúng tôi biết, hỏi thêm nữa, thể nào bố cũng nổi đóa lên. Mấy năm rồi, loa cứ ra rả kêu gọi bà con đừng phá vải, đừng đánh mất giống cây đặc sản. Người ta cứ bảo có hiệp hội bảo vệ này nọ, rồi còn có cả nhà máy chế biến gì gì nữa... Bố ngóng mấy năm rồi mà chẳng thấy đâu. Thành ra bây giờ cứ nhắc tới cơ quan, chính quyền, bố đều phủi tay. "Thân mình thì mình lo".
*
* *
Tôi thả thuyền ra giữa sông cho cá ăn. Ngồi trên thuyền, nhìn chung quanh thấy trong lòng trống rỗng. Trước kia, mỗi lần về quê, chèo thuyền ra đây ngồi rắc cám cho cá, nhìn đàn cá tranh nhau ăn, rồi lại nhìn um tùm cây cối tôi luôn tự cười với chính mình. Một cảm giác thích thú len lỏi, xâm lấn. Tôi từng đi khá nhiều nơi, khá nhiều vùng đất xa xôi khác, mỗi lần đều thầm so sánh với mảnh đất quê mình. Và đều thấy quê mình đẹp và trù phú hơn. Bây giờ thì khác. Như mất mát một cái gì lớn lắm. Trong lòng tôi luôn có một khoảng trống không thể nào lấp đầy. Nhìn lên vườn cây nhà mình, lại nhìn sang những vườn bên cạnh, càng thấy sự trống rỗng mênh mông hơn. Tất cả gần như trơ trụi. Như thể thần chết vừa lướt qua đây, tóm lấy sự sinh tồn của tất thảy những cây vải lớn bé. Mầu xanh mất đi, cành lá xum xuê mất đi, chỉ còn gốc trơ lại, nằm lăn lóc trên đất, nằm cong queo dưới nắng bỏng rát. Tôi cũng đang oằn mình dưới cái nắng gắt gao.
Trong lán, bố tôi đang ngồi hút thuốc lào, uống nước chè đặc với các chú có vườn quanh đây. Họ nói chuyện, thỉnh thoảng lại phá lên cười. Lúc sau, câu chuyện của họ lại quay về với những mảnh vườn cùng chung một dòng sông chảy qua.
- Gớm, mỗi cây được chừng hai chục cân, thuê đánh mất bảy mươi ngàn đồng một gốc, còn lỗ mất mười ngàn. - Chú Thơi vừa nói vừa lắc đầu, que đóm cháy gần hết - Ấy là chưa kể đến các khoản chi khác đấy. Thôi chả tiếc.
- Mấy cành ổi chiết ra rễ chưa? - Bố tôi hỏi bác Ba.
- Sắp trồng được rồi. Chả mấy mà lại bằng cái vườn kia đâu. - Bác vừa nói vừa trỏ tay ra phía cửa về mảnh vườn đằng sau.
Nhìn mẹ tôi đang bọc ổi sau vườn, chú Thơi lắc đầu:
- Ôi dào, đài với báo chán chết khiếp. Chả hiểu các ông ấy kiểm tra kiểm định thế nào, lúc thì nói ăn dưa hấu bị ngộ độc, lúc lại nói ổi bọc ni-lông ăn vào bị ung thư... Cứ nói làm người ta giật mình, hàng hóa ế ẩm, thối nát. Xong rồi lại đính chính, lại theo ông này, theo kiểm định kia thì không phải như thế. Gớm, đợi các ông kiểm tra xong thì người ta chết đói rồi. - Chú chẹp chẹp miệng ngán ngẩm.
Tôi nhặt quả ổi, bóc túi ni-lông, chẳng cần rửa, ngồi ngay tại gốc gặm ổi rồi lầm bầm một mình:
- Có ung thư thì mình ung thư từ lâu rồi!
Mẹ tôi nghe thấy cười, bảo:
- Ừ. Toàn thấy mày viết những cái gì tận đẩu đâu mẹ chẳng biết. Cái ngay trước mặt thì chẳng thấy viết bao giờ.
Tôi chỉ biết cười.
- Mà rồi nhà mình lại định trồng ổi kín vườn hả mẹ? - Tôi trỏ mảnh vườn trống trước mặt.
- Không. Trồng thêm một dãy thôi. - Mẹ không nhìn tôi, vẫn đều tay bọc ổi. - Gieo ít đỗ đen, dạo này những bốn mươi nghìn đồng một cân đấy. Ké ít gừng vào nữa. Mỗi thứ một ít, chứ cứ đổ xô vào một thứ như ngày trước trồng vải rồi lại ngắc ngoải thôi.
- Sao không đợi khuyến nông người ta bảo trồng gì hẵng trồng?
Mẹ dừng tay, quay lại:
- Gớm! Cô học cho lắm vào, giờ thì cái gì cũng chỉ đạo ở trên người ta bảo. Người ta ngồi tận đẩu tận đâu ấy biết rõ mình cần gì, mình làm gì là tốt nhất thì đã chẳng như bây giờ. Mình cứ tự cứu mình đã cô ạ, chứ đợi thì đất bỏ không chắc.
Tôi nhệch miệng cười rồi im thít bọc ổi. Nắng chiều chênh chếch, xiên vào cổ nóng rát.
*
* *
Ðẩy cánh cửa sổ ra. Gió mát rượi. Trăng chênh chếch lưng trời. Tôi thấy có gì là lạ. Thỉnh thoảng tôi vẫn mở cửa sổ ngủ cho mát, sao hôm nay thấy có gì lạ thế. Thấy tôi cứ bần thần ngồi nhìn ra ngoài, bà nhắc buông màn đi ngủ. Tôi buột miệng:
- Lạ thật!
- Cái gì lạ? Bà hỏi.
Tôi không trả lời bà, quay vào buông màn. Không quay sang ôm bà ngủ như mọi khi, tôi nằm xoay lưng lại nhìn mãi vầng trăng khuyết lơ lửng bên ngoài cửa sổ.
- Mấy chục năm, bây giờ cũng chỉ trơ trơ thế thôi. - Tôi nghe tiếng bà thở dài.
Tôi quay lại. Bà cũng đang nằm nhìn ra bên ngoài cửa sổ. Nhưng bà không nhìn ánh trăng vàng vọt mà nhìn những cành vải trơ trụi không một chiếc lá phơi mình dưới sương đêm đợi mùa sau nảy lộc đâm chồi. Tôi chợt nhận ra cái là lạ mà tôi cảm thấy từ nãy tới giờ. Cây vải này từ khi tôi sinh ra nó đã tỏa bóng che mát cả khoảnh sân trước nhà. Bây giờ cưa ngọn đi rồi, lần đầu tiên tôi nhìn thấy trăng treo phía ngoài cửa sổ. Hóa ra tôi thích ứng với sự thay đổi chậm thế. Lạ cũng phải thôi.
*
* *
Tôi mắc võng vào cành vải chìa ra bên sân, nằm ngủ ngon lành trong gió mát mùa hè. Chỗ tôi nằm chẳng vương một giọt nắng. Chỉ có tán vải xanh um che cho tôi ngủ. Nghe ríu rít tiếng chim trên cây. Nghe râm ran ve sầu gọi nắng. Nghe mầm xanh tách mình vươn lên.
Tôi mỉm cười nghe vải ngọt gọi mùa.
Thêm những mùa rực đỏ.