Giải pháp nào ứng phó với biến đổi khí hậu?

Hạn hán - xâm nhập mặn đang làm đảo lộn cuộc sống, ảnh hưởng tới sinh kế của hàng triệu người dân đã đặt ra vấn đề phải có những giải pháp cấp bách lẫn lâu dài để ứng phó với Biến đổi khí hậu (BĐKH). Đó là những giải pháp nào? Cùng các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý bàn luận chung quanh câu chuyện này trong bàn tròn của Nhân Dân hằng tháng.

Bộ Tư lệnh quân khu 5 hỗ trợ nước sạch cho bà con vùng hạn ở Nhơn Hải, Ninh Hải (Ninh Thuận). Ảnh: TRÀNG DƯƠNG
Bộ Tư lệnh quân khu 5 hỗ trợ nước sạch cho bà con vùng hạn ở Nhơn Hải, Ninh Hải (Ninh Thuận). Ảnh: TRÀNG DƯƠNG

Ông Nguyễn Văn Tài, Tổng cục trưởng Môi trường (Bộ TN&MT): “Nguyên tắc cơ bản của ứng phó với BĐKH là thích nghi”

Vấn đề BĐKH phải nhìn tổng thể, toàn diện, thí dụ ĐBSCL là các vấn đề hạ thấp mặt bằng nước ngầm, nước biển dâng, nước bị giữ lại ở thượng nguồn sông Mê Công. Quan trọng là phải thay đổi tư duy ứng phó với BĐKH, trên cơ sở “kịch bản” BĐKH đối với Việt Nam, từ đó có mô hình để thích nghi, sống chung với nó.

Giải pháp chính là thiết kế hệ thống cơ sở hạ tầng làm thế nào phù hợp “kịch bản” BĐKH, khả năng chống chịu của hệ sinh thái, khả năng chống chịu của những công trình bảo vệ môi trường, trong bối cảnh nước biển dâng, nhiệt độ tăng, những hiện tượng thời tiết cực đoan.

Mục tiêu của toàn thế giới ứng phó với BĐKH là làm sao giảm được việc tăng nhiệt độ dưới 2 độ c trong một khoảng thời gian nhất định cho đến cuối thế kỷ này, như vậy mới có thể đủ sức thích nghi. Nhưng nỗ lực của toàn cầu chưa làm được việc đó, thành ra BĐKH diễn ra nhanh hơn, phức tạp hơn so với dự báo, nên tạm thời mình chưa kịp ứng phó. Đó là về mặt khách quan, về chủ quan, chúng ta cũng thật sự chưa đầu tư một cách bài bản trên cơ sở “kịch bản” biến đổi khí hậu để hướng dẫn cách thức tổng thể, toàn diện nhìn xa để ứng phó. Thí dụ xâm nhập mặn ĐBSCL là vấn đề có thể nhìn thấy trước để chủ động ứng phó, chủ động để chuyển đổi, để thích nghi, để biến thách thức thành cơ hội. Nhưng chúng ta chậm thay đổi để thích nghi. Cần phải biết rằng BĐKH diễn ra dần dần, chầm chậm, nhưng xu thế không đổi.

Trước mắt cần những giải pháp gì?

Đầu tiên là làm sao hình thành thường trực trong suy nghĩ của các cấp lãnh đạo và người dân về nguy cơ của BĐKH, trên cơ sở đó có những quyết sách, những việc làm để chuyển đổi, thích nghi cả về phòng, chống các hiện tượng thời tiết cực đoan và những hiện tượng cụ thể như nước biển dâng, xâm nhập mặn; hạ tầng đô thị và hạ tầng khu dân cư; hạ tầng mềm hạ tầng cứng, cả chiến lược phát triển, thay đổi cơ cấu kinh tế vùng miền. Ngoài kịch bản BĐKH ra còn phải hình dung được mức độ tác động, xu hướng tác động, những tác động chính để thích nghi, sống chung, thay đổi, chuyển đổi.

PGS, TS Trần Hồng Thái, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Khí tượng - Thủy văn quốc gia: “Phải khôi phục rừng, tiết kiệm nước”

Giải pháp nào ứng phó với biến đổi khí hậu? ảnh 2

Muốn thích ứng với BĐKH, chúng ta phải đẩy mạnh khôi phục rừng, tập trung tại những khu rừng nghèo hoặc những khu vực đã mất rừng để bảo vệ đất, giữ nước. Tăng cường bảo vệ những diện tích rừng hiện còn, nhất là những khu rừng nguyên sinh mà ở đó, tầng đất mặt với lớp mùn có tác dụng như một bể chứa nước lớn, điều tiết dòng chảy lũ trong mùa mưa và tăng dòng chảy cho mùa cạn. Đồng thời, tiếp tục tăng cường tuyên truyền, vận động định canh, định cư, cải thiện và nâng cao đời sống cũng như thay đổi tập quán của người dân, đặc biệt là các dân tộc ít người.

Bên cạnh đó, phải thực hiện tiết kiệm trong sử dụng nước. Việc tiết kiệm nước được thực hiện dưới các hình thức khác nhau trong các hộ dùng nước khác nhau.

Trong nông nghiệp, chú trọng các biện pháp sau: Tiếp tục việc bê-tông hóa hệ thống kênh mương dẫn nước, nhằm giảm tổn thất nước do quá trình thấm ra bờ kênh, diễn ra suốt chiều dài kênh mương; Triển khai việc tưới ẩm, tưới nhỏ giọt trên những diện tích phù hợp. Đây là biện pháp tiết kiệm nước tưới đặc biệt hiệu quả, nhưng lại là một giải pháp công nghệ cao, đòi hỏi vốn đầu tư lớn, nên chỉ thích hợp đối với khu vực sản xuất lớn, chuyên môn hóa, tập trung; Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, cây trồng vậy nuôi phù hợp điều kiện của nguồn nước mà đem lại hiệu quả cao.

Trong công nghiệp, cần phải đặc biệt áp dụng các phương pháp tiết kiệm nước như: Tiết kiệm nước bằng cách ưu tiên tái sử dụng nước (sử dụng nước tuần hoàn); Cải tiến công nghệ thân thiện với môi trường và tiết kiệm nước.

Trong sinh hoạt, tiết kiệm nước bằng cách nâng cao chất lượng đường ống dẫn nước, bảo đảm không bị rò rỉ;...

Đồng thời, phải thúc đẩy các hoạt động trong Ủy hội sông Mê Công về tài nguyên nước, tập trung những vấn đề sau: Chia sẻ nguồn nước trong mùa kiệt giữa các quốc gia thành viên ở thượng và hạ lưu sông; Không thực hiện các dự án dẫn nước sông Mê Công cho các lưu vực khác; Không xây dựng các công trình trên dòng chính và dòng nhánh có ảnh hưởng tiêu cực đến dòng chảy sông Mê Công.

Với ĐBSLC, cần quy hoạch và từng bước thực hiện các biện pháp ngăn chặn sự xâm nhập của nước biển, mất đất trong điều kiện nước biển dâng cao; Nghiên cứu các biện pháp trữ ngọt, ngăn mặn xâm nhập sâu; Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, cây trồng vậy nuôi phù hợp và cần tích hợp BĐKH trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của toàn vùng.

Ông Ma Quang Trung, Cục trưởng Trồng trọt (Bộ NN&PTNT): “Thực hiện năm giải pháp cấp bách để chống khô hạn và xâm nhập mặn”

Giải pháp nào ứng phó với biến đổi khí hậu? ảnh 3

Về giải pháp trước mắt để chống khô hạn và xâm nhập mặn- những biểu hiện của BĐKH, Bộ NN&PTNT đã vạch ra năm nhiệm vụ cấp bách.

Đó là tổ chức thực hiện tốt công tác dự báo khí tượng thủy văn, nguồn nước, hạn hán, xâm nhập mặn phục vụ chỉ đạo điều hành cấp nước cho sản xuất và dân sinh. Tăng cường phổ biến thông tin về tình hình khí tượng thủy văn, lịch xả nước từ các hồ thủy điện, các chuyên đề hướng dẫn, phổ biến kinh nghiệm để nhân dân biết và chủ động phòng tránh, đồng thời sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.

Bên cạnh đó, phải rà soát cập nhật cân đối nguồn nước để xây dựng kế hoạch sử dụng nước hợp lý, trong đó ưu tiên nước cho sinh hoạt, nước uống cho gia súc, tưới cho cây trồng lâu năm có giá trị kinh tế cao khi hạn hán xảy ra. Đồng thời, tổ chức các biện pháp lấy nước và trữ nước, đắp đập ngăn mặn, nạo vét hệ thống kênh mương, lắp đặt trạm bơm dã chiến, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình thủy lợi ở các vùng có nguy cơ xảy ra hạn hán, xâm nhập mặn để kịp thời lấy nước. Xây dựng kế hoạch tích nước và điều tiết nước các hồ chứa thủy điện để bổ sung nước cho hạ du vào những ngày khô hạn.

Ngoài ra, cần cung cấp trang thiết bị phục vụ cấp và trữ nước cho các hộ gia đình ở những khu vực bị ảnh hưởng mặn nhưng không thể cấp nước bằng công trình tập trung như: hỗ trợ bồn nhựa trữ nước, máy lọc nước hộ gia đình, hoá chất xử lý nước. Hướng dẫn người dân khoan giếng tầng sâu để thay thế tạm thời nguồn nước mặt bị nhiễm mặn.

Ông Phạm Phú Ngọc, Trưởng Bộ phận Hỗ trợ Nông nghiệp, Công ty Nestlé Việt Nam: “Triển khai các phương pháp canh tác theo hướng thích ứng với BĐKH”

Giải pháp nào ứng phó với biến đổi khí hậu? ảnh 4

Hiện nay, tình trạng thời tiết khô hạn đang ảnh hưởng đến tính bền vững trong sản xuất nông nghiệp ở Tây Nguyên, đặc biệt là đối với cây trồng lâu ngày như cà-phê, tiêu. Để từng bước chủ động thích ứng với tình trạng khô hạn do tác động của BĐKH, thông qua Dự án nghiên cứu về tưới nước tiết kiệm, Nestlé & SDC hỗ trợ và hợp tác với Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, công ty tư vấn EDE đã nghiên cứu và chuyển giao các giải pháp canh tác theo hướng thích ứng và giảm thiểu tác hại của hạn hán trong sản xuất cây trồng lâu ngày như cà-phê.

Sự suy giảm mực nước ngầm do hoạt động tưới nước dư thừa đối với cây cà-phê trong mùa khô gây ra tình trạng khô cạn nguồn nước tưới ở nhiều địa điểm ở khu vực năm tỉnh khu vực Tây Nguyên gồm Kon Tum, Gia Lai, Đác Lắc, Đác Nông, Lâm Đồng.

Tình trạng này đang tăng một cách đáng báo động và gây hại không chỉ đến sản xuất cà-phê mà còn đến nhiều hoạt động khác của người dân khu vực. Tập tính tưới tiêu hiện tại của nông dân không bền vững được cho là một trong những nguyên nhân chính. Ước tính trung bình nông dân sử dụng nhiều hơn 60% lượng nước cần để tưới cây trong mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.

Nông dân trồng cà-phê dùng trung bình 700 đến 1.000 lít nước để bơm tưới cho cây, trong khi lượng nước cần để cho ra sản lượng cà-phê tương đương chỉ là một nửa con số trên, 300 đến 400 lít.

Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu, có thể giảm đến 30% lượng nước tưới mà vẫn bảo đảm năng suất cà phê, tác động tích cực đến thu nhập của người nông dân. Đối với phương pháp tưới truyền thống thì sản xuất 1 tấn cà-phê cần 450m3 nước, trong khi tưới tiết kiệm chỉ cần 370m3, kết hợp bón phân qua hệ thống tưới, giảm lượng phân bón từ 30-40%, giúp tiết kiệm nước tưới từ 700 lít/cây xuống còn 400 lít/cây. Giảm một số lượng nhân công dành cho các hoạt động tưới nước và bón phân.

Những hiệu quả này cho thấy phải triển khai những biện pháp canh tác theo hướng thích ứng với BĐKH mới có thể giảm thiểu tác động của những hiện tượng thời tiết cực đoan như khô hạn, bảo đảm sản xuất nông nghiệp bền vững.

Mô hình sử dụng nước tưới hợp lý của dự án do Nestle đồng tài trợ.

Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cập nhật chi tiết cho Việt Nam. Theo đó, có ba kịch bản BĐKH đã được đưa ra theo các kịch bản phát thải toàn cầu khác nhau: phát thải thấp, trung bình và cao. Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của BĐKH và những hiểu biết chưa thật đầy đủ về BĐKH của Việt Nam cũng như trên thế giới, cùng với yếu tố tâm lý - kinh tế - xã hội, tính chưa chắc chắn về các kịch bản phát thải nhà kính trên thế giới... nên kịch bản trung bình đã được khuyến nghị để các bộ, ngành và địa phương sử dụng làm định hướng ban đầu nhằm đánh giá tác động của BĐKH, nước biển dâng và xây dựng kế hoạch hành động ứng phó thích hợp và hiệu quả nhất.

Cụ thể, theo kịch bản trung bình, vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ ở nước ta có thể tăng 2, 3 độ C so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999. Mức tăng nhiệt độ dao động từ 1,6 đến 2,8 độ C ở các vùng khí hậu khác nhau. Nhiệt độ các vùng khí hậu phía bắc và Bắc Trung Bộ tăng nhanh hơn so với nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía nam. Tại mỗi vùng thì nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè. Tổng lượng mưa mỗi năm và lượng mưa mùa mưa ở tất cả các vùng khí hậu của nước ta đều tăng, trong khi đó lượng mưa mùa khô có xu hướng giảm, đặc biệt là ở vùng khí hậu phía nam. Tính chung cả nước, lượng mưa năm vào cuối thế kỷ 21 tăng khoảng 5% so với thời kỳ 1980 - 1999. Trong khi đó, vào giữa thế kỷ 21, mực nước biển có thể dâng thêm khoảng 30 cm và đến cuối thế kỷ này là 75 cm so với thời kỳ 1980 - 1999.

Tính toán ban đầu cho thấy, đối với khu vực TP Hồ Chí Minh, nếu mực nước biển dâng thêm 65 cm sẽ có khoảng 128 km2 đất bị ngập (chiếm 6,3% tổng diện tích), nước biển dâng thêm 75 cm sẽ có khoảng 204 km2 bị ngập (chiếm 10% tổng diện tích) và khi nước biển dâng thêm 100 cm sẽ có khoảng 473 km2 bị ngập (chiếm tới 23% tổng diện tích).

Tại khu vực ĐBSCL, khi nước biển dâng thêm 65 cm sẽ có khoảng 5.133 km2 đất bị ngập (chiếm 13% tổng diện tích), nước biển dâng 75 cm sẽ có 7.580 km2 đất bị ngập (chiếm 20% tổng diện tích) và nếu nước biển dâng thêm 100 cm thì 15.116 km2 đất bị ngập (chiếm 38% tổng diện tích). Các khu vực còn lại sẽ được tiếp tục nghiên cứu để đưa ra kết quả trong thời gian sớm nhất.

Có thể bạn quan tâm