Có một thực tế, không ai lấy định mức xây dựng của Nhà nước để xây nhà cho mình! Nếu có chăng thì cũng chỉ đem ra làm cơ sở tham khảo một số công đoạn hiếm gặp. Điều gì ngăn cản công cụ có tính khoa học, được tinh chỉnh qua hàng thập kỷ và định kỳ được cập nhật áp dụng rộng rãi hơn nữa trên thực tế (?!).
Hàng loạt nhà thầu các dự án xây dựng đường cao tốc bắc - nam “tố khổ” nguy cơ bị lỗ, dự án nhiều khả năng không hoàn thành đúng tiến độ do giá cả nguyên vật liệu thay đổi quá nhanh, quá xa so với thời điểm họ dự thầu.
Riêng ở phần đất đắp đường, ông Phạm Đình Hạnh, Giám đốc Công ty TNHH Hòa Hiệp (trong liên danh trúng gói thầu 3.000 tỷ đồng đoạn Diễn Châu - Bãi Vọt) từng chia sẻ với báo chí: Việc thi công gặp rất nhiều khó khăn do đội vốn quá nhiều so với dự toán. Một trong những vấn đề khó khăn nhất công ty gặp phải là phần đắp nền đường. Do thiếu nguồn đất cộng với việc chi phí khai thác tăng cao, nhiều khả năng chi phí đầu tư dự án bị tăng từ 15 - 20%, theo tính toán sơ bộ.
Định mức “cong vênh” với thực tế
Rõ ràng ở đây, định mức xây dựng, hoặc cụ thể hơn là định mức chi phí của dự án đường cao tốc bắc - nam đã có một khoảng cách so với thực tế thị trường. Ở phạm vi rộng hơn cũng đang diễn ra tình trạng tương tự. TS Nguyễn Tấn Vinh, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế xây dựng cho biết: Định mức xây dựng dùng cho đầu tư công ở Việt Nam thường có sự chậm trễ so với giá thành xây dựng thực tế. Theo quy định, phải có thực tế thi công sau đó mới có khảo sát thực tế, đo đạc để đưa ra định mức chung. Thêm vào đó, ngành xây dựng ở Việt Nam đang phát triển chóng mặt, các vật liệu mới, máy móc mới, công nghệ mới… liên tục được các đơn vị tư nhân mạnh dạn đầu tư áp dụng. Công nghệ thay đổi từng ngày, trong khi đó theo quy định, Bộ Xây dựng vẫn… ba năm mới thực hiện một lần cập nhật các loại định mức thông qua việc ban hành thông tư mới.
Quay trở lại với câu chuyện dự án đường cao tốc bắc - nam, có người cho rằng, nó chỉ đại diện cho sự lạc hậu “cá biệt” của định mức so với thực tế. Dự án cao tốc bắc - nam giai đoạn 2 được đồng loạt khởi công từ đầu năm 2023, phạm vi trải dài qua nhiều tỉnh, thành phố với khối lượng thi công vô cùng lớn. Yếu tố này là một nguyên nhân gây ra tình trạng đột nhiên khan hiếm nguyên vật liệu xây dựng. Thậm chí có thông tin một số chủ mỏ, nắm được nhu cầu cấp thiết về vật liệu xây dựng dành cho thi công đường cao tốc bắc - nam, đã bắt tay nhau cùng nâng giá các loại nguyên vật liệu.
Vậy thì sự lạc hậu “phổ biến” của định mức so với thực tế nằm ở đâu? Có một câu chuyện trước đây khá “nổi tiếng” trong ngành xây dựng. Một tập đoàn lớn đầu tư xây dựng sân bay theo hình thức BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao) ở phía bắc. Hiển nhiên dự án vẫn phải áp dụng định mức xây dựng được Bộ Xây dựng ban hành. Riêng với gói tư vấn giám sát, trước khi tổ chức đấu thầu, chủ đầu tư thông tin ra ngoài, bất cứ ai đưa ra mức giá chào thấp hơn 40% so với định mức thì mới có thể ngồi xuống “nói chuyện” tiếp! Tiến trình tiếp theo thế nào không ai biết chính xác, chỉ biết rằng, sân bay vẫn khánh thành đúng hạn định.
Với câu chuyện nêu trên, mặc nhiên có thể hiểu khi áp dụng trong thực tế, chủ đầu tư đã tiết kiệm ít nhất 40% gói tư vấn giám sát so với định mức. Rất khó có thể xác thực tính chính xác của những câu chuyện như vậy. Người ngoài cuộc nghe kể lại, người trong nghề chỉ “rỉ tai” nhau như những bài học kinh nghiệm. Còn người trong cuộc thì hiển nhiên “lặng im”. Tuy nhiên những câu chuyện đó đang tồn tại trong ngành xây dựng như một lẽ tự nhiên.
Ở một khía cạnh khác, các doanh nghiệp tư nhân đều không dùng định mức xây dựng của Nhà nước cho các dự án ngoài đầu tư công. Nếu có dùng cũng chỉ mang tính chất tham khảo bước đầu. Nó cũng giống như việc không ai dùng định mức xây dựng của Nhà nước để tự đi làm nhà mình! Tại sao lại như vậy?
Thử làm một phép kiểm tra đơn giản, chúng tôi đưa một bản định mức dự toán của một công trình xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước cho anh X (giấu tên vì một số lý do cá nhân), giám đốc một công ty xây dựng tư nhân. Doanh nghiệp này chưa bao giờ thi công các dự án đầu tư công, hoàn toàn chỉ làm các công trình tư nhân. Chúng tôi yêu cầu anh X thử đánh giá nếu đây là công trình doanh nghiệp mình làm, anh có thể “rút gọn” lại những gì? Ngay khi cầm bản dự toán, anh X đã gạch bỏ thẳng tay một số khâu như phần chi phí cho lán trại công nhân, tư vấn giám sát… Anh lý giải mình nhận hợp đồng trọn gói theo kiểu chìa khóa trao tay, một khi đã bàn giao là sản phẩm phải bảo đảm chất lượng, thậm chí được mình bảo hành. Cũng không cần thiết phải tư vấn hay giám sát. Phần giá cũng được anh X đánh giá là hơi cao so với thực tế. Nếu tự anh làm có thể bớt đi được “kha khá”.
Để làm được điều này, họ xây dựng hệ thống dữ liệu riêng về giá. Dựa trên các công trình đã thi công trước đó, giá tính theo các mô-đun và cập nhật liên tục. Một số mặt hàng đặc biệt, ít phổ biến trên thị trường, họ liên hệ, đàm phán trực tiếp với nhà sản xuất mà không phải thông qua bất cứ kênh trung gian nào. Đặc biệt khi lựa chọn nhà thầu, yếu tố giá được đặt lên hàng đầu nên dữ liệu về giá rất sát so với thị trường. Nói một cách khác, đầu tư tư nhân có xu hướng quản lý giá nhiều hơn về mặt định mức kỹ thuật so với đầu tư công.
Giá là yếu tố quyết định đối với các doanh nghiệp. Tùy từng thời điểm, giá cả nguyên vật liệu biến động trên thị trường, khoảng cách cố định họ luôn có thể duy trì từ 30-40% so với định mức đầu tư công của Nhà nước. Việc này bảo đảm lợi nhuận và một số khoản “chi trả khác”. Phần nào chênh lệch nhiều sẽ bù cho phần chênh lệch ít, một số khâu có thể cắt bỏ bù đắp cho phần không có chênh lệch. Chúng tôi nhận được những lời khẳng định như vậy từ nhiều chủ doanh nghiệp trong những buổi nói chuyện ngoài công việc (?!).
Gánh nặng trong triển khai đầu tư công
Từ định mức xây dựng đến thực tế triển khai là một quãng đường dài. Quãng đường đó không chỉ khiến các bên mất thời gian, công sức, đôi khi còn là những rắc rối về mặt pháp lý. Bê-tông mác 250, trộn máy, đổ bằng bơm cần. Theo định mức, giá bê-tông loại này được thông báo vào khoảng 1,7 triệu đồng/m3. Trên thực tế giá mua vào công trình ở các dự án phía bắc chỉ khoảng 1 triệu đồng/m3. Phần giá trị chênh khoảng 700 nghìn đồng cho một khối bê-tông tưởng chừng rất nhỏ nhưng nếu cho cả dự án thì là một con số khổng lồ, nhiều khi lên đến hàng chục tỷ đồng. Hầu hết các doanh nghiệp, đơn vị thi công phải thực hiện “bài toán” hợp thức hóa về nhân công, máy móc, thiết bị… hoặc thậm chí hóa đơn giả (khống) để xử lý phần chênh lệch này.
Riêng với hành vi sử dụng hóa đơn giả, Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bởi điểm k khoản 2 Điều 2 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) quy định có thể bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng. Thậm chí bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm nếu phạm tội ở các hình thức sau: Có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên; thu lợi bất chính 100 triệu đồng trở lên; gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100 triệu đồng trở lên; tái phạm nguy hiểm.
Ở một thí dụ khác, định mức thi công trát tường chỉ đưa ra chiều dày vữa trát tường theo tiêu chuẩn. Nhưng trên thực tế, theo quy phạm thi công và nghiệm thu có sai số về độ phẳng của tường xây. Theo đó, mức hao phí vật tư sẽ cao hơn tương đối so với định mức. Hiển nhiên, doanh nghiệp hay nhà thầu trong trường hợp này sẽ phải xử lý “ngoài luồng” các khối lượng vật tư chênh lệch do hao phí.
Những biện pháp xử lý “ngoài luồng” để hợp thức hóa phần chênh lệch giữa định mức và thực tế được áp dụng phổ biến. Nó bảo đảm sự “thỏa mãn” tất cả các bên tham gia ngoại trừ hiệu quả của dự án, của đầu tư công. Đó là chưa kể đến những hệ lụy khác mà rất lâu sau chúng ta mới có thể nhận ra…
Định mức mang nặng tính chuẩn mực. Về mặt lý thuyết, trong quá trình thi công có thể thay đổi định mức nói chung hoặc các yếu tố cấu thành như phương án thi công… Tuy nhiên trong thực tế, đây được coi là những việc “bần cùng bất đắc dĩ”. Các nhà thầu rất kiêng kỵ đề nghị thay đổi biện pháp thi công, mặc dù đôi khi phương án thi công “máy móc”, hạn chế áp dụng công nghệ mới, vật liệu hoặc máy móc mới… Nói một cách khác, họ phải “miễn cưỡng” từ bỏ một số lợi ích thiết thực về thời gian cũng như tiền bạc. Theo định mức xây dựng đối với công đoạn sơn tường đã bả, 1 lít sơn thi công được 4 - 5m2 cùng hai lớp sơn phủ. Tuy nhiên đây mới chỉ là tính toán cho sơn thủ công. Nếu thi công bằng máy phun sơn, lượng sơn hao phí sẽ ít hơn, đồng nghĩa 1 lít sơn được nhiều diện tích hơn, thời gian thi công cũng rút ngắn lại…
Trong một số trường hợp khác, định mức lại tỏ ra quá vụn vặt dẫn đến khó khăn trong công tác xây dựng đơn giá và quản lý, làm chậm quy trình thi công. Chẳng hạn với định mức làm đường, có quá nhiều loại máy cho một công đoạn. Cụ thể hơn nữa, một công đoạn lu đường nhưng có đến hai loại máy lu khác nhau… Trên thực tế, một nhà thầu cho biết, không bao giờ bỏ công mang đến hai - ba máy lu khác nhau về để thực hiện cho một đoạn đường ngắn.
Tất cả những “gánh nặng” của định mức hiện hành đều được ghi nhận bởi các đơn vị đang ngày đêm tham gia các công trình, dự án đầu tư công. Tuy nhiên, để chia sẻ “công khai” thì hầu như mọi người đều né tránh. Định mức mang trong nó nhiều hạn chế nhưng đồng thời mang lại “cơm áo” cho các bên tham gia. Nói một cách khác, nếu làm đúng theo định mức sẽ mất nhiều thời gian, công sức… nhưng lợi ích đem lại cũng đáng kể. Bên thiệt thòi duy nhất ở đây, như chúng tôi đã khẳng định ở phần trên, chính là ngân sách nhà nước, hay tiền của của nhân dân.
Thay đổi cả một hệ thống không thể là chuyện một sớm, một chiều. Chúng ta đang có những cơ hội “vàng” để thay đổi từng điểm tích cực trông thấy làm nền tảng cho sự thay đổi lớn hơn. Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng vẫn đang trong quá trình được lấy ý kiến đóng góp để thông qua một số sửa đổi, bổ sung. Đã đến lúc, chúng ta nên trả định mức xây dựng về đúng giá trị vốn dĩ, xác thực của nó.
(Còn nữa)