Sự đảo chiều trên thị trường trái phiếu

Ngân hàng vốn được xem là khu vực “khỏe” nhất trên thị trường vốn, nhưng nay cũng đã bước vào cuộc đua huy động trái phiếu với mức lãi suất tiệm cận lãi vay. Nhiều đợt phát hành trái phiếu gần đây của các ngân hàng ghi nhận lãi suất lên tới 8-9%/năm, cao hơn đáng kể so cùng kỳ năm trước.

Nhiều ngân hàng lớn đang chuẩn bị triển khai các kế hoạch huy động vốn quy mô lớn qua kênh trái phiếu. Ảnh: NAM ANH
Nhiều ngân hàng lớn đang chuẩn bị triển khai các kế hoạch huy động vốn quy mô lớn qua kênh trái phiếu. Ảnh: NAM ANH

Sự đảo chiều này phản ánh áp lực thanh khoản trong hệ thống tài chính đang lớn dần lên, trong bối cảnh tín dụng tăng tốc, huy động dân cư chậm lại và nhu cầu vốn trung, dài hạn gia tăng. Diễn biến đó cũng đang thể hiện rõ trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN).

Theo báo cáo của Công ty chứng khoán MBS, trong 4 tháng đầu năm, nhóm bất động sản tiếp tục dẫn đầu thị trường TPDN với khoảng 54.400 tỷ đồng phát hành, tăng 278% so cùng kỳ và chiếm 58,3% tổng giá trị toàn thị trường. Trong khi đó, nhóm ngân hàng ghi nhận khoảng 29.600 tỷ đồng trái phiếu phát hành, tương đương 28,6% tổng lượng phát hành.

Ngân hàng không còn chiếm ưu thế

Thống kê của Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA) ghi nhận, trong tháng 4/2026, nhiều ngân hàng đã phải chấp nhận đẩy lãi suất phát hành trái phiếu lên mức rất cao để huy động vốn. Một số ngân hàng như TMCP Hàng hải Việt Nam (MSB), TMCP Bắc Á (Bac A Bank) và TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) phát hành trái phiếu với lãi suất dao động 8,4-8,9%/năm, trong khi cùng kỳ năm trước mức lãi phổ biến chỉ quanh 5,2-5,3%/năm.

Sang tháng 5/2026, hoạt động phát hành trái phiếu của nhóm ngân hàng vẫn diễn ra sôi động. Nhóm ngân hàng TMCP Quân đội (MB), Bac A Bank, Techcombank, MSB phát hành gần 10.000 tỷ đồng trái phiếu. Mặt bằng lãi suất phát hành trong thời gian này tiếp tục duy trì ở mức cao, phổ biến trong khoảng 8-8,6%/năm.

Đáng chú ý, nhiều ngân hàng lớn đang chuẩn bị triển khai các kế hoạch huy động vốn quy mô lớn qua kênh trái phiếu. Trong đó, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) gây chú ý khi lên phương án phát hành riêng lẻ tổng cộng 41.000 tỷ đồng.

Bên cạnh khối ngân hàng quốc doanh, nhiều ngân hàng tư nhân cũng đẩy mạnh huy động vốn. Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank) vừa thông qua kế hoạch phát hành tối đa 15.000 tỷ đồng trái phiếu trong năm 2026, còn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) trước đó cũng đã phê duyệt kế hoạch phát hành riêng lẻ với quy mô lên tới 30.000 tỷ đồng.

Việc lãi suất phát hành trái phiếu tăng mạnh đang tạo áp lực lớn lên biên lợi nhuận của các ngân hàng. Khi chi phí huy động vốn đã tiệm cận lãi suất cho vay, khoảng chênh lệch giữa đầu vào và đầu ra bị thu hẹp đáng kể. Điều này đồng nghĩa sau khi trừ chi phí vận hành, dự phòng rủi ro và các chi phí vốn khác, dư địa lợi nhuận còn lại không còn nhiều như trước.

Lý giải nguyên nhân việc các ngân hàng chấp nhận đánh đổi lợi nhuận để tăng lãi suất trái phiếu, ông Đinh Quang Hinh, Trưởng phòng Khối vĩ mô và chiến lược thị trường của VNDirect cho rằng, lãi suất phát hành trái phiếu riêng lẻ bình quân của nhóm ngân hàng trong tháng 4/2026 đã lên tới 8,5%/năm, tăng 1,6 điểm phần trăm so với cuối năm 2025 và cao hơn 3,1 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy áp lực thanh khoản của hệ thống vẫn ở mức đáng kể. Trong bối cảnh tăng trưởng huy động từ dân cư diễn ra chậm, nhiều ngân hàng buộc phải tìm thêm nguồn vốn trung và dài hạn từ kênh trái phiếu cũng như thị trường liên ngân hàng để đáp ứng nhu cầu tín dụng và bảo đảm các hệ số an toàn vốn.

Đồng quan điểm, TS Châu Đình Linh, giảng viên Trường đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, hệ thống ngân hàng hiện chịu áp lực lớn từ thanh khoản, huy động vốn và nhu cầu tín dụng gia tăng. Lạm phát tăng buộc các ngân hàng phải duy trì lãi suất huy động ở mức thực dương để giữ sức hấp dẫn với người gửi tiền. Trong khi đó, nhu cầu tín dụng phục hồi mạnh cũng khiến nhiều ngân hàng phải tăng lãi suất huy động để thu hút vốn, qua đó tạo thêm áp lực lên mặt bằng lãi suất cho vay.

Ông Linh cho rằng, áp lực thanh khoản hiện không chỉ đến từ nhu cầu cho vay mà còn từ yêu cầu bảo đảm chi trả tiền gửi đến hạn và duy trì an toàn hệ thống. Bên cạnh đó, dòng tiền gửi vào ngân hàng đang có dấu hiệu chậm lại khi nhiều kênh đầu tư khác trở nên hấp dẫn hơn.

Bất động sản cũng không khá hơn

Dù dẫn đầu thị trường về giá trị phát hành trái phiếu và mặt bằng lãi suất, nhóm bất động sản trong quý I/2026 chỉ ghi nhận khoảng 11.300 tỷ đồng trái phiếu được mua lại trước hạn, giảm tới 58% so cùng kỳ và xuống mức thấp nhất trong vòng 4 năm.

Trong khi đó, tổng giá trị gốc và lãi trái phiếu chậm thanh toán phát sinh mới trong quý I lên tới 3.732 tỷ đồng, tăng 50% so với quý trước. Tuy nhiên, số tiền thực tế được thanh toán mới chỉ khoảng 57 tỷ đồng, cho thấy khả năng chủ động xử lý nghĩa vụ nợ của nhiều doanh nghiệp đang suy giảm rõ rệt.

Một số trường hợp đáng chú ý là Công ty CP Đầu tư địa ốc Phương Đông tiếp tục chậm thanh toán hàng chục tỷ đồng tiền lãi trái phiếu đến hạn trong năm 2026, dù trước đó doanh nghiệp đã nhiều lần đàm phán giãn nợ và kéo dài kỳ hạn trái phiếu thêm hai năm. Doanh nghiệp này cũng bị xử phạt do vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin, làm gia tăng lo ngại về tính minh bạch trên thị trường.

Nhiều doanh nghiệp khác như May - Diêm Sài Gòn, Đầu tư Phát triển BĐS Thành Vinh hay TNI Nam Quang cũng trong tình trạng tương tự khi gánh khối nợ lên tới hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn tỷ đồng, nhưng hiệu quả kinh doanh lại khá hạn chế.

Trước đó, ước tính của MBS cho thấy trong quý II/2026 sẽ có khoảng 58.500 tỷ đồng TPDN đáo hạn, tăng 140% so cùng kỳ và cao gấp 3,3 lần quý I/2026. Áp lực đáo hạn chủ yếu tập trung ở nhóm bất động sản. Riêng trong tháng 5 và tháng 6/2026, giá trị trái phiếu đến hạn của nhóm này ước khoảng 23.000 tỷ đồng, chiếm tới 75,6% tổng lượng đáo hạn toàn thị trường.

Trong khi đó, báo cáo của Công ty CP Xếp hạng Tín nhiệm đầu tư Việt Nam (VIS Rating) dự báo năm nay sẽ có khoảng 99.000 tỷ đồng trái phiếu bất động sản đến hạn thanh toán. Điều này cho thấy làn sóng phát hành trở lại của thị trường không hoàn toàn phản ánh sự phục hồi khỏe mạnh. Một phần đáng kể nguồn vốn mới đang được doanh nghiệp sử dụng để đảo nợ, tái cơ cấu nghĩa vụ tài chính hoặc kéo giãn áp lực thanh khoản ngắn hạn.

Liên quan đến thị trường chung, ông Nguyễn Bá Hùng, chuyên gia Kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam cho biết, để thị trường TPDN phát triển lành mạnh, điều quan trọng là phải nâng cao chất lượng xếp hạng tín nhiệm, minh bạch thông tin và cơ chế định giá nhằm giúp nhà đầu tư đánh giá đúng rủi ro và tăng thanh khoản thị trường.

Cũng theo ông Hùng, hiện thị trường vẫn tồn tại nhiều mất cân đối khi hoạt động phát hành chủ yếu tập trung ở ngân hàng và doanh nghiệp bất động sản, trong khi sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức như quỹ hưu trí hay bảo hiểm còn hạn chế. Bên cạnh đó, thị trường thứ cấp chưa phát triển mạnh, còn hệ thống xếp hạng tín nhiệm và công bố thông tin vẫn ở giai đoạn đầu, khiến niềm tin của nhà đầu tư chưa thật sự vững chắc.

Theo vị chuyên gia này, dù các quy định mới đã tăng cường bảo vệ nhà đầu tư và siết chặt yêu cầu với doanh nghiệp phát hành, thị trường vẫn khó phát triển chiều sâu nếu chưa mở rộng được cơ sở nhà đầu tư tổ chức và đa dạng hóa các sản phẩm trái phiếu phù hợp với nhiều mức độ rủi ro khác nhau.

Thị trường trái phiếu đang phát hành mạnh trở lại, nhưng phía sau sự sôi động ấy là một thực tế khác: cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp bất động sản đều đang phải trả giá đắt hơn để có dòng tiền. Khi chi phí vốn tăng lên, điều thị trường cần không chỉ là thêm những đợt phát hành mới. Khả năng tạo ra dòng tiền đủ thật để trả cho những khoản nợ cũ mới là thứ quan trọng nhất.