Khi nỗi lo thiếu vốn dần lùi xa, áp lực giờ đây nằm ở năng lực thực thi và tâm lý sợ trách nhiệm trong bộ máy.
Ngoài kế hoạch Thủ tướng giao, kế hoạch vốn cân đối ngân sách địa phương năm 2026 được các địa phương giao tăng thêm gần 13.300 tỷ đồng so mức Thủ tướng Chính phủ giao. Bên cạnh đó, phần vốn của các năm trước được phép kéo dài sang năm 2026 là 80.031 tỷ đồng. Như vậy, tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 được giao lên tới 1.106.800,55 tỷ đồng. Quy mô vốn ngày càng lớn cho thấy đầu tư công tiếp tục được kỳ vọng là động lực dẫn dắt tăng trưởng.
Góp 1,5-2% vào tăng trưởng GDP
Theo TS Chu Thanh Tuấn, Phó Chủ nhiệm nhóm ngành Cử nhân Kinh doanh, Đại học RMIT Việt Nam, với quy mô rất lớn, đầu tư công có thể đóng góp khoảng 1,5-2 điểm % vào tăng trưởng GDP năm 2026.
Tuy nhiên, hiệu quả cuối cùng phụ thuộc lớn vào chất lượng dự án và tốc độ triển khai. Trong quá khứ, không ít giai đoạn vốn đầu tư công tăng mạnh nhưng tác động lan tỏa hạn chế do giải ngân chậm hoặc đầu tư dàn trải.
Nếu nguồn vốn nhà nước được tập trung vào hạ tầng giao thông, năng lượng và các công trình chiến lược, chi phí logistics sẽ giảm, kết nối vùng được cải thiện và môi trường đầu tư trở nên thuận lợi hơn. Điều này giúp nâng hiệu quả sử dụng vốn của khu vực tư nhân và góp phần cải thiện năng suất nhân tố tổng hợp (TFP). Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, tại nhiều nền kinh tế mới nổi, 1 đồng đầu tư hạ tầng công có thể huy động được hơn 1 đồng đầu tư tư nhân.
Chính phủ định hướng giai đoạn 2026 - 2030 khống chế số dự án sử dụng vốn nhà nước không quá 3.000 dự án, giảm mạnh so các giai đoạn trước. Việc chuyển từ mô hình “nhiều dự án nhỏ, phân tán” sang tập trung vào các dự án quy mô lớn, kỳ vọng sẽ nâng hiệu quả sử dụng vốn và gia tăng tác động tăng trưởng trên mỗi đồng đầu tư.
Một dự án hạ tầng lớn không chỉ tạo việc làm cho nhà thầu xây dựng, mà còn kéo theo nhu cầu tín dụng, vật liệu, logistics và đầu tư công nghiệp tại các khu vực hưởng lợi.
Cùng với các sửa đổi pháp luật về đầu tư, đầu tư công và các luật liên quan đất đai, xây dựng, quy hoạch, cũng như phân cấp mạnh hơn để địa phương chủ động điều chuyển vốn, môi trường thể chế đang thuận lợi hơn để đầu tư công chuyển hóa thành tăng năng suất thực chất, thay vì chỉ tạo kích thích ngắn hạn.
Ngoài ra, đầu tư công tạo “neo cầu” mạnh cho doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng. Năm 2026, các tổ chức tín dụng dự báo tăng trưởng tín dụng khoảng 18,1%, trong đó nhu cầu vay của doanh nghiệp, nhất là nhóm liên quan hạ tầng, xây dựng, sản xuất sẽ dẫn dắt. Nếu các dự án công triển khai tốt, sẽ tạo đơn hàng ổn định cho vật liệu xây dựng, máy móc, dịch vụ và kích hoạt đầu tư liên quan của khu vực tư nhân.
Rào cản do tâm lý e ngại trách nhiệm
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến hết ngày 30/4, tổng số vốn đã giải ngân đạt 144.282,9 tỷ đồng, tương ứng 14,2% kế hoạch do Thủ tướng Chính phủ giao. Trong đó, nguồn vốn ngân sách Trung ương giải ngân được 38.802,5 tỷ đồng, đạt 10,7%; còn ngân sách địa phương đạt 105.480,4 tỷ đồng, tương đương 16,2%. So cùng kỳ năm trước, giá trị giải ngân tăng 12.615,7 tỷ đồng, tuy nhiên tỷ lệ thực hiện lại giảm 1,7%.
Theo TS Nguyễn Quốc Việt, Trưởng nhóm nghiên cứu vĩ mô, Trường đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, bên cạnh các khó khăn khách quan về thủ tục, mặt bằng hay tâm lý e ngại trách nhiệm, sợ sai trong quá trình thực thi đang trở thành một trong những rào cản lớn.
Xét theo từng đơn vị, 8 bộ, cơ quan Trung ương và 16 địa phương đạt hoặc vượt mức giải ngân bình quân chung của cả nước. Ngược lại, vẫn còn 27 bộ, cơ quan và 18 địa phương có kết quả thấp hơn mặt bằng chung, trong đó 14 đơn vị gần như chưa triển khai giải ngân hoặc tỷ lệ dưới 1%.
Tại một số địa phương và đơn vị, cán bộ thực thi còn có xu hướng thận trọng quá mức trong xử lý hồ sơ, phê duyệt thủ tục hoặc đưa ra quyết định liên quan đến đấu thầu, điều chỉnh vốn, giải phóng mặt bằng hay lựa chọn nhà thầu. Điều này khiến nhiều quy trình bị kéo dài, thiếu tính chủ động và làm chậm tiến độ triển khai dự án, đặc biệt với các công trình quy mô lớn, liên quan nhiều thủ tục pháp lý và phối hợp liên ngành.
Nhiều dự án kéo dài còn làm gia tăng chi phí đầu tư do biến động giá nguyên vật liệu, phát sinh điều chỉnh tổng mức đầu tư và ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn nhà nước. Một số công trình dang dở trong thời gian dài đã trở thành điểm nghẽn đối với phát triển kinh tế - xã hội, gây cản trở giao thông, ảnh hưởng môi trường sống, hoạt động sản xuất, kinh doanh và làm giảm niềm tin của người dân cũng như nhà đầu tư.
Chi phí của một quyết định sai có thể quy về trách nhiệm cá nhân rất rõ, trong khi lợi ích của việc đẩy nhanh tiến độ dự án lại mang tính tập thể và khó đo đếm trực tiếp. Điều này khiến xu hướng trì hoãn hoặc “làm đúng quy trình hơn là làm nhanh” ngày càng phổ biến. Trong một môi trường mà rủi ro pháp lý cá nhân thường hiện hữu rõ hơn phần thưởng từ hiệu quả dự án, xu hướng trì hoãn quyết định gần như trở thành lựa chọn an toàn của không ít cán bộ thực thi.
“Trong bối cảnh nhiều cơ chế, chính sách mới về đầu tư công, đấu thầu và phân cấp đã được sửa đổi theo hướng thông thoáng hơn, vấn đề quan trọng hiện nay không chỉ là hoàn thiện thể chế mà còn nằm ở khâu tổ chức thực thi. Nếu không khắc phục được tâm lý sợ trách nhiệm và nâng cao tính chủ động của bộ máy thực hiện, áp lực giải ngân lớn trong năm 2026 sẽ khó chuyển hóa thành động lực tăng trưởng thực chất cho nền kinh tế”, ông Việt nêu rõ.
Rõ trách nhiệm trong từng khâu
Từ thực tế này, TS Nguyễn Quốc Việt cho rằng, cần rà soát nghiêm túc toàn bộ quá trình từ khâu thiết kế, quy hoạch đến tổ chức thực hiện các dự án đầu tư công. Trách nhiệm giải trình phải được xác định rõ ngay từ đầu, gắn với nguyên tắc “ba rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm trong từng khâu của dự án.
Việc công khai thông tin đầy đủ, kịp thời về các dự án đầu tư công trước, trong và sau quá trình triển khai sẽ giúp tăng tính minh bạch, qua đó tạo sự ủng hộ và tham gia của cộng đồng, góp phần bảo đảm tiến độ và hiệu quả của dự án.
Năng lực quản trị dự án đầu tư công theo hướng hiện đại, áp dụng phương thức quản trị tiên tiến và các công cụ đánh giá rủi ro theo thông lệ quốc tế cũng là vấn đề cần nâng cấp. Trong quá trình triển khai cũng cần trao quyền linh hoạt hơn cho chủ đầu tư và nhà thầu trong phạm vi cho phép, nhằm xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh. Khi các cơ chế, chính sách mới về đầu tư công và đấu thầu đã được hoàn thiện theo hướng cởi mở hơn, yếu tố quyết định chính là khâu thực thi.
Theo TS Chu Thanh Tuấn, để nâng hiệu quả đầu tư công, cần cải cách mạnh thể chế và quy trình ngay từ khâu chuẩn bị dự án, hoàn tất các thủ tục về nghiên cứu khả thi, đất đai, môi trường và quy hoạch trước khi phân bổ vốn. Đồng thời, cần triển khai hiệu quả các sửa đổi của Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công và các luật liên quan nhằm giảm chồng chéo thủ tục, tạo điều kiện cho địa phương chủ động điều chuyển vốn từ dự án chậm sang dự án có tiến độ tốt hơn.
Vị chuyên gia cũng nhấn mạnh yêu cầu tập trung nguồn lực cho các dự án lớn, có tác động lan tỏa cao, ưu tiên hoàn thành các công trình trọng điểm đang triển khai thay vì dàn trải vốn cho quá nhiều dự án mới.
Khi quy mô đầu tư công đã lên tới mức kỷ lục, câu hỏi không còn đơn thuần là “có bao nhiêu tiền”, mà là bộ máy thực thi có đủ năng lực và động lực để biến dòng vốn ấy thành tăng trưởng thực chất hay không. “Nếu các giải pháp này được thực thi nghiêm túc, Việt Nam có thể biến kế hoạch vốn kỷ lục và áp lực giải ngân lớn của năm 2026 từ rủi ro thành cơ hội. Khi đó, đầu tư công không chỉ tạo cú huých cầu trong ngắn hạn mà còn góp phần nâng cấp hạ tầng, thu hút đầu tư tư nhân và tạo nền tảng vững hơn cho tăng trưởng dựa trên năng suất trong giai đoạn 2026-2030”, TS Tuấn nhận định.