Đất suy thoái thách thức sinh kế người dân

Gần 12 triệu ha đất bị suy thoái chiếm gần một phần ba diện tích tự nhiên của cả nước. Khi đất mất dần sức sống, người nông dân cũng đối diện nguy cơ mất sinh kế ngay trên chính quê hương mình.

Áp lực mưu sinh khiến người dân tiếp tục gieo trồng trên mảnh đất bạc màu. Ảnh: NAM ANH
Áp lực mưu sinh khiến người dân tiếp tục gieo trồng trên mảnh đất bạc màu. Ảnh: NAM ANH

Không còn là hiện tượng riêng lẻ

Ở vùng đất Nhân Thủy, xã Đồng Lương, tỉnh Thanh Hóa, nhiều quả đồi giờ chỉ còn lổn nhổn đất đá và những khoảng cỏ dại khô xác. Người dân nơi đây nói rằng đất đã “chết dần” qua từng mùa vụ.

Còn tại Điện Biên, sau trận lũ quét lịch sử năm 2024 tại xã Mường Pồn, hàng chục ha ruộng nương bị vùi lấp dưới lớp đất đá dày đặc. Gần hai năm trôi qua, nhiều diện tích vẫn chưa thể phục hồi.

Nhưng nghịch lý là dù đất bạc màu, nhiều hộ dân vẫn không thể dừng canh tác. Áp lực mưu sinh khiến người dân tiếp tục gieo trồng ngắn ngày, tăng phân bón hóa học để giữ năng suất, vô tình đẩy đất vào vòng xoáy suy kiệt nhanh hơn.

Gia đình anh Lò Văn Tuấn ở bản Lĩnh có gần 4.000 m2 ruộng nước bị đất đá phủ kín. Dù đã huy động người thân san gạt, cải tạo, nhưng lớp đất dày lẫn đá khiến việc phục hồi gần như vượt quá khả năng của một hộ nông dân.

Những câu chuyện ấy không còn là hiện tượng riêng lẻ. Từ miền núi phía bắc đến Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, ngày càng nhiều vùng đất canh tác đang mất dần khả năng sản xuất. Và phía sau sự suy kiệt của đất là nỗi lo hiện hữu về sinh kế của hàng triệu người dân nông thôn.

Theo số liệu của ngành nông nghiệp và môi trường, Việt Nam hiện có khoảng 11,8 triệu ha đất bị suy thoái. Nghiêm trọng hơn, khoảng 1,2 triệu ha đã ở mức suy thoái nghiêm trọng.

Các chuyên gia cho rằng, sức ép suy thoái đất ở Việt Nam đang ngày càng lớn do tác động đồng thời của biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan và phương thức canh tác thiếu bền vững kéo dài nhiều năm.

Ông Trần Lâm Đồng, Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam nhận định, phần lớn diện tích đất ở Việt Nam là đất đồi núi có độ dốc lớn. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, nguy cơ suy thoái đất ngày càng mạnh hơn. “Suy thoái đất dẫn đến năng suất, chất lượng rừng giảm và dần dần đất đai bị bỏ hoang hóa”, ông Đồng cảnh báo.

Ở khu vực Tây Bắc, nơi canh tác ngô trên đất dốc còn phổ biến, mức độ xói mòn đang ở ngưỡng đáng báo động. Theo các nghiên cứu chuyên ngành, nếu không áp dụng các biện pháp bảo vệ đất, lượng đất bị xói mòn do mưa có thể lên tới 100-150 tấn/ha/năm.

Điều đó đồng nghĩa mỗi năm mất khoảng 1-1,5 cm lớp đất mặt - phần đất giàu dinh dưỡng nhất, quyết định trực tiếp đến năng suất cây trồng. Với tốc độ ấy, chỉ sau 5-7 năm, chất lượng đất canh tác sẽ suy giảm nghiêm trọng. Xa hơn, trong khoảng 30-40 năm, nguy cơ mất hoàn toàn tầng đất mặt là hiện hữu.

Tại nhiều vùng trung du miền núi phía bắc và Tây Nguyên đã xuất hiện những khu vực xói mòn nặng, đất trơ sỏi đá, gần như không còn khả năng sản xuất. Nhiều vùng đất phải mất hàng chục năm mới có thể phục hồi tự nhiên lớp đất mặt đã bị cuốn trôi.

Xét theo phân bố địa lý, trung du và miền núi phía bắc hiện là khu vực chịu tác động nặng nề nhất với khoảng 1,4 triệu ha đất thoái hóa. Tiếp đến là Bắc Trung Bộ, duyên hải miền trung và Tây Nguyên, mỗi khu vực có khoảng 1,1 triệu ha đất bị suy thoái.

Không chỉ mất đất vì thiên tai, nhiều địa phương còn đứng trước áp lực thu hẹp đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa, phát triển hạ tầng và công nghiệp hóa.

Tại Điện Biên, diện tích đất trồng cây hằng năm đã giảm hơn 9.000 ha so với năm 2019. Nhiều diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi để phục vụ các dự án giao thông, khu đô thị, sân bay, công trình điện và hạ tầng kinh tế - xã hội.

Trong khi đó, phần lớn quỹ đất sản xuất của tỉnh lại có độ dốc lớn, tầng canh tác mỏng, khả năng phục hồi thấp. Quỹ đất phù hợp cho lúa nước chỉ chiếm khoảng 1,5% diện tích tự nhiên.

Điều đáng lo ngại là suy thoái đất làm giảm năng suất cây trồng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam.

Khi các tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn phát triển bền vững ngày càng khắt khe trên thị trường quốc tế, chất lượng đất trở thành yếu tố quyết định chất lượng nông sản. Một nền nông nghiệp dựa trên đất đai suy kiệt sẽ rất khó đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài.

Giữ “sức khỏe đất” để giữ sinh kế cho người dân

Trong nhiều năm, đất đai thường được xem như nguồn tài nguyên có thể khai thác vô tận. Nhưng thực tế hiện nay đang cho thấy giới hạn ngày càng rõ rệt.

Khi đất bạc màu, chi phí sản xuất tăng, năng suất giảm xuống, người nông dân là đối tượng chịu tác động đầu tiên. Ở nhiều vùng nông thôn, đất đai vẫn là tài sản lớn nhất, là “điểm tựa” của sinh kế gia đình. Đất suy thoái đồng nghĩa nguy cơ tái nghèo tăng lên.

Ông Trần Quang Bảo, Cục trưởng Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, suy thoái đất ảnh hưởng rất nặng nề đến sinh kế người dân, nguồn nước, đa dạng sinh học và tiềm ẩn nhiều nguy cơ môi trường khác.

“Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới nên nguy cơ suy thoái đất, hạn hán luôn hiện hữu. Tuy nhiên, chúng ta đã chủ động xây dựng các chương trình phục hồi, phủ xanh đất trống”, ông Bảo cho biết.

Theo các chuyên gia, bài toán hiện nay không chỉ là phục hồi những vùng đất đã suy thoái mà còn phải thay đổi căn bản phương thức phát triển nông nghiệp.

Ông Trần Lâm Đồng cho rằng, nguyên nhân quan trọng dẫn đến suy thoái đất là canh tác thiếu bền vững trong thời gian dài. Vì vậy, cần chuyển hướng sang nâng cao chất lượng rừng và chất lượng đất bằng cách lựa chọn cây trồng có tính bền vững cao hơn, thay đổi phương thức canh tác và lâm sinh.

Nhiều chuyên gia cũng nhấn mạnh yêu cầu đưa “sức khỏe đất” trở thành trung tâm trong quản lý tài nguyên và phát triển nông nghiệp. Điều này đòi hỏi các địa phương không chỉ quan tâm đến tăng trưởng sản lượng mà phải chú trọng khả năng phục hồi của đất, kiểm soát xói mòn, hạn chế lạm dụng hóa chất và phát triển các mô hình canh tác bền vững.

Trong bối cảnh quỹ đất ngày càng hạn hẹp, giải pháp không thể là tiếp tục khai thác theo chiều rộng mà phải nâng cao giá trị trên từng đơn vị đất.

Những mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, nông-lâm kết hợp đang được xem là hướng đi cần thiết nhằm tái tạo độ phì cho đất và giảm áp lực môi trường. Việc đầu tư thủy lợi, chống xói mòn, cải tạo đồng ruộng cũng cần được coi là đầu tư cho tương lai lâu dài của nông nghiệp.

Quan trọng hơn cả là thay đổi tư duy sử dụng đất. Ông Trần Lâm Đồng nhấn mạnh, từ chỗ chỉ “lấy của đất”, nền nông nghiệp Việt Nam cần chuyển sang tư duy “nuôi đất”, phục hồi đất và sử dụng đất như một nguồn tài nguyên cần được tái tạo bền vững.