Cơ hội nào khi cán cân thương mại đảo chiều?

Cán cân thương mại của Việt Nam bất ngờ chuyển sang nhập siêu trong những tháng đầu năm 2026. Thế giới đang chuyển từ ưu tiên giá rẻ sang ưu tiên độ ổn định chuỗi cung ứng.

Đồ họa: KHIẾU MINH
Đồ họa: KHIẾU MINH

Trong giai đoạn 2021 - 2025, cán cân thương mại hàng hóa đều ghi nhận thặng dư, năm 2025 tiếp tục đạt mức trên 20 tỷ USD. Tuy nhiên bước sang năm 2026, xu hướng đã thay đổi. Tháng 1, 2 và 3 ghi nhận nhập siêu tương ứng khoảng 1,78 tỷ USD, 1,01 tỷ USD và 0,68 tỷ USD. Tháng 4 ghi nhận con số cao nhất, 3,99 tỷ USD, nâng tổng mức nhập siêu lên 7,46 tỷ USD.

Chưa phải là dấu hiệu bất thường

Theo bà Nguyễn Thu Oanh, Trưởng ban Thống kê dịch vụ và giá, Cục Thống kê, việc chuyển sang nhập siêu chủ yếu phản ánh nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất. Nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 165,37 tỷ USD, chiếm 94,2% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong đó, nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 54,8% và nhóm nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 39,4%.

Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng chỉ đạt 10,27 tỷ USD, chiếm 5,8%. Điều này cho thấy doanh nghiệp chủ động tăng dự trữ đầu vào để phòng ngừa rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng và biến động giá năng lượng.

Ở chiều ngược lại, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng cao đạt 169 tỷ USD, tăng 20% so với cùng kỳ năm trước. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo với kim ngạch đạt 151,5 tỷ USD, tăng 21,2%, chiếm gần 90% tổng kim ngạch xuất khẩu. Bên cạnh đó, nhóm hàng nông, lâm, thủy sản tiếp tục duy trì vai trò quan trọng với kim ngạch đạt 12,68 tỷ USD, tăng 0,9%.

“Nhập siêu trong giai đoạn này mang tính chất ngắn hạn, gắn với chu kỳ sản xuất và yếu tố giá, đồng thời phản ánh sự chủ động thích ứng của doanh nghiệp trước những biến động của kinh tế toàn cầu, chưa phải là dấu hiệu bất thường”, bà Oanh nêu rõ.

Trong báo cáo triển vọng vĩ mô tháng 5, các chuyên gia của Công ty Chứng khoán MB (MBS) dự báo kim ngạch nhập khẩu năm 2026 sẽ ở mức khoảng 15 - 16%. Việt Nam tiếp tục gia tăng nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ nhằm thu hẹp thặng dư thương mại với nước này. Đồng thời, nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ được kỳ vọng tăng mạnh để phục vụ mở rộng sản xuất cũng như đầu tư hạ tầng.

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam có thể tăng khoảng 15 - 16% trong năm 2026 nhờ nhiều yếu tố hỗ trợ. Theo Cơ quan Phát triển về Thương mại của Liên hợp quốc (UNCTAD), thương mại hàng hóa toàn cầu trong lĩnh vực điện tử (nhóm ngành có thế mạnh của Việt Nam) được dự báo tăng mạnh 14% so với năm 2025. Sự tăng trưởng này đến từ nhu cầu đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) gia tăng.

Sau khi Tòa án Tối cao Mỹ bác bỏ các mức thuế đối ứng vào tháng 2, mức thuế nhập khẩu trung bình đối với hàng hóa Việt Nam vào Mỹ đã giảm từ 21,6% xuống khoảng 16%. Ngoài ra, chiến lược đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sang các thị trường có tiêu chuẩn cao nhưng giá trị gia tăng lớn hơn như Liên minh châu Âu và Hàn Quốc cũng được kỳ vọng tạo thêm dư địa tăng trưởng cho xuất khẩu.

Việt Nam đang thúc đẩy tiến trình đàm phán và ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do với các thị trường mới như các Tiểu Vương quốc Ả rập thống nhất, Israel và Qatar. Trên cơ sở đó, MBS dự báo thặng dư thương mại trong năm 2026 sẽ duy trì ở mức khoảng 23 tỷ USD.

231.jpg
Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng cao đạt 169 tỷ USD, tăng 20% so với cùng kỳ năm trước. Ảnh: KHIẾU MINH

Duy trì tăng trưởng hai con số

Dù nhập siêu hiện nay được đánh giá chủ yếu mang tính chu kỳ và phục vụ sản xuất, song theo giới chuyên gia, diễn biến này vẫn đặt ra nhiều vấn đề cần theo dõi trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn. Đặc biệt, căng thẳng leo thang tại Trung Đông được xem là yếu tố có thể tác động trực tiếp và gián tiếp tới hoạt động thương mại quốc tế cũng như cán cân thương mại của Việt Nam trong thời gian tới.

Rủi ro lớn nhất hiện nay nằm ở khả năng gián đoạn vận tải và biến động mạnh của giá năng lượng toàn cầu. Khi xung đột kéo dài, chi phí vận tải quốc tế có thể tăng mạnh do tàu hàng phải chuyển hướng hoặc đối mặt nguy cơ tắc nghẽn tại các tuyến hàng hải chiến lược. Điều này không chỉ kéo dài thời gian giao hàng mà còn làm tăng đáng kể chi phí logistics của doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

Giá dầu tăng cũng sẽ kéo theo chi phí đầu vào của nhiều ngành sản xuất trong nước tăng lên, đặc biệt với các lĩnh vực phụ thuộc lớn vào nhiên liệu và nguyên liệu nhập khẩu như dệt may, nhựa, hóa chất, vận tải hay chế biến chế tạo. Áp lực chi phí gia tăng có thể làm suy giảm biên lợi nhuận và sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Không chỉ tác động tới chi phí sản xuất, biến động năng lượng còn có thể làm gia tăng áp lực lạm phát tại các nền kinh tế lớn như Mỹ và châu Âu. Khi lạm phát tăng trở lại, các ngân hàng trung ương có thể duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn dự kiến, qua đó ảnh hưởng đến tiêu dùng và nhu cầu nhập khẩu hàng hóa. Đây là yếu tố có thể gây sức ép lên xuất khẩu của Việt Nam trong các quý tới.

Trong báo cáo đánh giá tác động của chiến sự Trung Đông đối với kinh tế Việt Nam, VinaCapital cho rằng nếu xung đột chuyển sang trạng thái “chiến tranh tiêu hao”, kéo dài nhiều tuần mà không bên nào giành được lợi thế quyết định, nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng tại Eo biển Hormuz sẽ gia tăng đáng kể. Đối với Việt Nam, VinaCapital dự báo tăng trưởng GDP có thể giảm khoảng 1 điểm phần trăm do chi phí năng lượng tăng cao và thương mại toàn cầu suy yếu; đồng thời giảm thêm khoảng 1 điểm phần trăm do xuất khẩu sụt giảm.

Theo TS Nguyễn Sơn, giảng viên ngành Quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam, thay vì chỉ nhìn vào áp lực chi phí, doanh nghiệp Việt Nam cần nhận ra rằng tình huống này tạo ra cơ hội với đối tác. Điển hình như châu Âu đang đồng thời đối mặt với khủng hoảng năng lượng và quan hệ Liên minh châu Âu (EU) - Mỹ suy giảm. Trong bối cảnh đó, họ đang tích cực tìm kiếm các đối tác thương mại ổn định.

Doanh nghiệp Việt Nam có thể chủ động đề xuất điều chỉnh hợp đồng: Bổ sung điều khoản phụ phí vận tải linh hoạt, chia sẻ gánh nặng chi phí tăng thêm một cách minh bạch, và tận dụng khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU để đàm phán ưu đãi dài hạn đổi lấy cam kết cung ứng ổn định. Cân bằng trên bàn đàm phán có thể nghiêng về phía người bán có nguồn cung đáng tin cậy.

Quan trọng hơn, trong môi trường bất ổn địa chính trị kéo dài, các nhà mua hàng quốc tế đang ngày càng ưu tiên sự ổn định và đáng tin cậy hơn giá thấp nhất tuyệt đối. Đây là xu hướng có lợi cho Việt Nam. Với nền tảng chính trị ổn định, vị trí địa lý an toàn, mạng lưới 20 hiệp định thương mại tự do có hiệu lực và quan hệ cân bằng với nhiều cực quyền lực, Việt Nam đang sở hữu lợi thế cạnh tranh phi giá ngày càng có giá trị.

"Lợi thế này chỉ được hiện thực hóa nếu doanh nghiệp Việt Nam chủ động củng cố năng lực giao hàng đúng hạn, chất lượng ổn định, và thông tin chuỗi cung ứng minh bạch, những yếu tố mà người mua quốc tế đang coi trọng hơn bao giờ hết trong bối cảnh rủi ro toàn cầu gia tăng", TS Nguyễn Sơn lưu ý.