Đầu năm 2026, anh Nguyễn Duy Minh (từng làm việc trong lĩnh vực thương mại điện tử) quyết định thành lập một doanh nghiệp nhỏ chuyên kinh doanh thực phẩm sạch tại Hà Nội. “Môi trường khởi sự kinh doanh đã cởi mở hơn, chi phí ban đầu cũng không quá lớn, nên nhiều người như tôi sẵn sàng thử sức”, anh nói.
Hiệu ứng cộng hưởng
Theo số liệu từ Cục Thống kê, trong 4 tháng đầu năm, cả nước có 77.800 doanh nghiệp đăng ký thành lập (tăng 50,7%) mới với tổng số vốn đăng ký gần 785.000 tỷ đồng (tăng 60,1%) và tổng số lao động đăng ký 357.000 lao động (tăng 0,3%).
Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng, việc số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động đạt mức cao cho thấy thể chế đang chuyển động theo hướng thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân. Nổi bật là Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Tiếp đó là Nghị quyết 198/2025/QH15 của Quốc hội, cùng với các chương trình hành động của Chính phủ nhằm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.
Nhiều chính sách cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh theo tinh thần của Kết luận 18-KL/TW, tập trung cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa quy trình cấp phép và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Các đạo luật sửa đổi liên quan đến đầu tư, đấu thầu, đất đai và thuế cũng được hoàn thiện theo hướng minh bạch, nhất quán hơn...
Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp về tài chính tín dụng, giãn, hoãn thuế, cũng như thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục được triển khai. Thông điệp xuyên suốt, coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, đã góp phần củng cố niềm tin thị trường.
“Chính sự cộng hưởng của các chính sách này đã tạo ra “hiệu ứng tâm lý tích cực”, giúp doanh nghiệp mạnh dạn hơn trong việc gia nhập thị trường hoặc quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng”, ông Tuấn nhận định.
Những áp lực hiện hữu
L.II.N Clothing (một thương hiệu thời trang nữ) đã thông báo đóng cửa vĩnh viễn sau hơn 10 năm hoạt động. Đại diện thương hiệu chia sẻ rằng, quyết định này xuất phát từ nhận thức về một thị trường đã thay đổi quá nhiều. Việc cố duy trì một mô hình kinh doanh không còn hiệu quả sẽ khó tạo ra giá trị lâu dài, nên doanh nghiệp lựa chọn dừng lại một cách chủ động thay vì tiếp tục trong tình trạng thiếu bền vững.
Câu chuyện này không phải là cá biệt trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp phải chịu tác động đồng thời từ cả yếu tố nội tại lẫn các biến động bên ngoài. Kết quả khảo sát do Ban Nghiên cứu Phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) phối hợp với Bộ Tài chính mới thực hiện cũng cho thấy, xung đột Trung Đông đã tạo ra những áp lực hiện hữu.
Gần 90% số doanh nghiệp ghi nhận chi phí đầu vào tăng. Trong đó, hơn một nửa đánh giá tăng mạnh, phổ biến ở mức 5-10%. Đáng chú ý có tới 18,4% số doanh nghiệp chịu mức tăng hơn 20%.
Cú sốc còn lan sang cả chuỗi cung ứng và thị trường đầu ra. Có 52,2% số doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi gián đoạn vận tải quốc tế và logistics, với các biểu hiện như giá cước tăng, thời gian vận chuyển kéo dài và phát sinh chi phí. Đồng thời, 53,5% số doanh nghiệp cho biết, đơn hàng xuất khẩu giảm, chủ yếu tại các thị trường châu Á và Trung Đông.
Nhiều doanh nghiệp buộc phải chuyển sang trạng thái phòng thủ. Có 64,5% số doanh nghiệp đã hoãn hoặc điều chỉnh kế hoạch đầu tư. Khả năng chống chịu của doanh nghiệp theo đó cũng bị bào mòn khi chỉ 17% tự đánh giá ở mức cao, trong khi phần lớn ở mức trung bình hoặc thấp.
Hệ quả là làn sóng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn ở mức cao. Trong 4 tháng đầu năm, có 72,2 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 5,1% so cùng kỳ năm trước; gần 21,5 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ giải thể, tăng 6,6%; và gần 15,2 nghìn doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể, tăng tới 98,7%. Bình quân mỗi tháng có khoảng 27,2 nghìn doanh nghiệp rời khỏi thị trường.
Việc doanh nghiệp liên tục thành lập rồi nhanh chóng đóng cửa gây lãng phí lớn về nguồn lực quốc gia và cơ hội phát triển. Khi doanh nghiệp có điều kiện tồn tại lâu hơn, tích lũy đủ năng lực, mới có thể hình thành các doanh nghiệp lớn và một lực lượng doanh nghiệp vững mạnh.
Trọng tâm chính sách thời gian tới thiên về tạo lập môi trường kinh doanh đủ tốt để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển.
Đồng bộ các giải pháp hỗ trợ
Trọng tâm chính sách thời gian tới không nên chỉ dừng ở việc gia tăng số lượng doanh nghiệp. Cần tập trung chú trọng cải thiện điều kiện hoạt động, giảm các ràng buộc bất hợp lý, để doanh nghiệp có thể cạnh tranh bình đẳng với các khu vực khác trong nền kinh tế.
Đồng thời các cách tiếp cận cũng cần chuyển sang hướng xây dựng hệ sinh thái đồng bộ, thay vì các giải pháp đơn lẻ sẽ giúp giải quyết bài toán phát triển doanh nghiệp một cách căn cơ hơn, từ môi trường thể chế đến cơ hội thị trường và dư địa tăng trưởng.
Về giải pháp cụ thể, ông Tuấn cho rằng, cần tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ, trong đó tập trung vào giảm các loại phí, lệ phí nhằm trực tiếp giảm gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp. Đồng thời, duy trì các chính sách thuế ưu đãi đối với xăng, dầu sẽ tạo thêm dư địa hỗ trợ nền kinh tế.
Bên cạnh đó, cần xem xét các chương trình giãn, hoãn và giảm thuế có mục tiêu, ưu tiên những ngành, lĩnh vực đang gặp nhiều khó khăn. Song song với đó, doanh nghiệp cũng kỳ vọng Chính phủ sẽ có các gói hỗ trợ mang tính ngành, với giải pháp cụ thể, sát thực tiễn cho từng lĩnh vực, nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng hấp thụ chính sách. Những giải pháp này, nếu được triển khai nhất quán và kịp thời, sẽ góp phần cải thiện sức chống chịu của doanh nghiệp và hỗ trợ quá trình phục hồi, phát triển trong bối cảnh nhiều biến động hiện nay.
Về khâu thực thi, theo TS Nguyễn Minh Thảo, Phó trưởng Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính lưu ý, thời gian qua, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực về hoàn thiện thể chế trên phương diện chính sách và văn bản pháp luật. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay là đưa các cải cách này đi vào thực tiễn. Các giải pháp cần được triển khai cụ thể, nhất quán và có thể đo lường được, để doanh nghiệp thật sự cảm nhận được sự thay đổi trong môi trường kinh doanh.
Cần tăng cường công tác tổ chức thực thi và giám sát các quyết sách, bảo đảm chính sách không chỉ dừng lại trên giấy mà thật sự đi vào cuộc sống. Các bộ, ngành và địa phương cần chủ động mở rộng kênh trao đổi, tập trung xử lý dứt điểm những vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai. Cùng với đó, việc thiết lập cơ chế phản ứng chính sách nhanh là cần thiết, nhằm kịp thời tháo gỡ các bất cập từ thực tiễn, rút ngắn thời gian điều chỉnh và giảm chi phí cho doanh nghiệp. Đồng thời, tăng cường giám sát độc lập và theo dõi thường xuyên sẽ giúp chính sách được thực thi đúng hướng, kịp thời điều chỉnh những điểm chưa phù hợp.
“Đặc biệt, cải cách thủ tục hành chính và thúc đẩy chuyển đổi số cần được đẩy nhanh hơn nữa, qua đó xây dựng một môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và an toàn, tạo nền tảng để doanh nghiệp yên tâm đầu tư và phát triển dài hạn”, vị chuyên gia này nhấn mạnh.