Nghị định số 231/2025/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 28/8/2025 lần đầu đưa ra khái niệm “tổng công trình sư”, “kiến trúc sư trưởng” cho các chương trình, dự án trọng điểm về khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây được xem là bước đi mang tính đột phá trong tư duy quản trị phát triển công nghệ: từ cách làm phân tán sang mô hình có người dẫn dắt tổng thể, có quyền điều phối, có trách nhiệm kiến tạo lộ trình phát triển.
Sau gần một năm triển khai, điều đáng chú ý là những vị trí ấy vẫn bỏ trống. Chẳng lẽ đất nước với 100 triệu dân không tìm được vài cá nhân đủ tầm?
Khi chính sách mở đường nhưng nhân tài còn dè dặt
Sau nhiều năm sống và làm việc ở nước ngoài, trở về Việt Nam với khát vọng kết nối trí thức toàn cầu cho quê hương, GS Trần Thanh Vân luôn đau đáu về môi trường phát triển khoa học trong nước.
Theo ông, việc Đảng và Nhà nước đặt ra chủ trương tìm kiếm những “tổng công trình sư”, “kiến trúc sư trưởng” cho các đề án trọng điểm là một tư duy mới và rất cần thiết. Đó không đơn thuần là chuyện bổ nhiệm một chức danh, mà là sự thừa nhận vai trò trung tâm của trí thức trong kiến tạo tương lai phát triển đất nước. “Chúng ta có chính sách tốt nhưng chưa chắc đã đúng với mong muốn của nhà khoa học. Việc “trải thảm đỏ” đón nhân tài cần đi liền với tạo điều kiện làm việc, tôn trọng và phát huy trí tuệ của họ”, ông nói.
Thực tế cho thấy, dù Nghị định 231 đã tạo hành lang pháp lý khá đầy đủ, việc tìm kiếm các tổng công trình sư vẫn chưa đạt kết quả như kỳ vọng. Tại một cuộc họp báo thường kỳ gần đây, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Hoàng Phương thẳng thắn thừa nhận: Đến nay chưa có nhà khoa học trong nước nào chủ động nhận vai trò tổng công trình sư cho các đề án lớn.
Theo ông, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Bộ Nội vụ đã xây dựng nhiều cơ chế đặc thù nhằm thu hút nhân tài, trao quyền tự chủ học thuật, cho phép nhà khoa học tham gia khai thác và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Điểm nghẽn nằm ở tâm lý e ngại của chính đội ngũ khoa học trong nước.
Nhiều người vẫn chưa sẵn sàng bước ra khỏi “vùng an toàn” để nhận các nhiệm vụ lớn, có tính đột phá và đi kèm trách nhiệm rất cao. Trong khi đó, khoa học-công nghệ vốn là lĩnh vực chấp nhận rủi ro, nơi thất bại nhiều khi là điều tất yếu trên con đường sáng tạo.
Đằng sau sự dè dặt ấy không chỉ là câu chuyện thu nhập hay điều kiện nghiên cứu. Đó còn là nỗi băn khoăn về cơ chế thực thi, mức độ trao quyền thực chất, khả năng phối hợp liên ngành và đặc biệt là niềm tin rằng những ý tưởng lớn sẽ được theo đuổi đến cùng.
Khoảng trống lớn trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
Nhu cầu tìm kiếm “kiến trúc sư trưởng” hiện không chỉ xuất hiện ở cấp trung ương. Theo TS Võ Xuân Hoài, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC), nhiều địa phương như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bắc Ninh… đều bày tỏ mong muốn có những chuyên gia đầu ngành đủ năng lực định hướng chiến lược phát triển công nghệ phù hợp với điều kiện địa phương.
Thực tế này phản ánh một khoảng trống lớn trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam. Việt Nam không thiếu kỹ sư công nghệ giỏi. Không ít người đang làm việc tại các tập đoàn hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, giữa một kỹ sư giỏi và một “tổng công trình sư” vẫn có sự khác biệt.
Nếu kỹ sư giải quyết một bài toán kỹ thuật cụ thể, thì tổng công trình sư phải nhìn thấy cả hệ sinh thái công nghệ, chuỗi giá trị, xu hướng thị trường, khả năng thương mại hóa và cả vị thế quốc gia trong cuộc cạnh tranh toàn cầu. Nói cách khác, đó là những người vừa hiểu sâu công nghệ, vừa có tư duy chiến lược, năng lực tổ chức và khả năng kết nối các nguồn lực.
Theo ông Hoài, với nhiều nhóm ngành công nghệ chiến lược mà Việt Nam ưu tiên phát triển như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, robot, an ninh mạng hay hàng không vũ trụ…, mỗi lĩnh vực đều cần ít nhất một tổng công trình sư đủ tầm dẫn dắt.
Ông dẫn trường hợp của Morris Chang, nhà sáng lập TSMC của Đài Loan (Trung Quốc), như một thí dụ điển hình về vai trò của một “kiến trúc sư trưởng” quốc gia trong ngành bán dẫn. Đằng sau đó là tầm nhìn của một con người hiểu rõ vị trí của Đài Loan trong chuỗi bán dẫn toàn cầu và kiên trì theo đuổi một hướng đi suốt hàng chục năm.
Ở Việt Nam, nhiều lĩnh vực công nghệ vẫn đang phát triển theo hướng phân tán, thiếu sự điều phối tổng thể, thiếu người “định hình bản vẽ” cho cả ngành.
TS Võ Xuân Hoài, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) : “Nếu không có các tổng công trình sư, chúng ta sẽ giống như thầy bói xem voi. Mỗi người nhìn một góc, mỗi nơi làm một phần”.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Vương Quang Khải, nhà sáng lập Zalo cho rằng, Việt Nam hiện có nhiều kỹ sư công nghệ giỏi nhưng còn thiếu năng lực thiết kế sản phẩm ở tầm thế giới. Ông ví sự khác biệt này giống như giữa kiến trúc sư và kỹ sư xây dựng. Một bên quyết định “xây cái gì”, bên kia quyết định “xây như thế nào”. “Chúng ta có nhiều kỹ sư máy tính, nhưng rất thiếu kiến trúc sư công nghệ”, ông Khải nhận định.
Theo Nghị định 231, các vị trí kiến trúc sư trưởng được phân thành ba nhóm: cấp bộ, cấp tỉnh và cấp dự án.
Họ không chỉ làm nhiệm vụ tư vấn chuyên môn mà còn trực tiếp xây dựng kiến trúc hệ thống, điều phối nhóm nghiên cứu, đề xuất chính sách đặc thù, xây dựng lộ trình công nghệ và thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm khoa học-công nghệ.
Theo đánh giá của ông Nguyễn Đức Long, Tổng Giám đốc Học viện Công nghệ AIUni, các tổng công trình sư, kiến trúc sư trưởng là những vị trí mang tính “nhạc trưởng” trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Việc xây dựng cơ chế, chính sách theo Nghị định 231 là rất tích cực. Tuy nhiên, theo ông: “Chúng ta vẫn đang tư duy ở góc độ làm chính sách theo hướng chúng ta có gì mà chưa đi theo hướng họ cần gì. Phải đánh giá, khảo sát được nhu cầu thực tế của những nhà khoa học, những chuyên gia đầu ngành”.
Một hướng nhìn khác, ông cho rằng, thu hút “người tài” vốn dĩ không phải là câu chuyện một sớm một chiều. Ông lấy thí dụ, có những quốc gia, chẳng hạn Trung Quốc phải mất tới hàng chục năm mới có thể xây dựng được đội ngũ hàng đầu, để dẫn dắt ngành khoa học và công nghệ trong nước.
“Cùng với việc tập trung thu hút, Việt Nam cần tính tới bài toán xây dựng đội ngũ thông qua chính sách đào tạo, lựa chọn hạt giống tài năng để ươm mầm trở thành những kiến trúc sư trưởng cho tương lai”, ông Long đề xuất. Bởi theo ông, những tổng công trình sư vốn không dễ tìm, và lại càng khó thu hút thì việc chủ động tạo ra nguồn cung sẽ là một lợi thế cho Việt Nam.
Đúng như chia sẻ của GS Trần Thanh Vân, câu chuyện con người là điều quan trọng nhất. Nhưng luôn luôn là một chặng đường dài và cần rất nhiều yếu tố.
“Điều Việt Nam cần không chỉ là các văn bản chính sách, mà là một hệ sinh thái thật sự biết trọng dụng trí thức. Ở đó, nhà khoa học không chỉ được đãi ngộ tốt hơn, mà quan trọng hơn là được tin tưởng, được trao quyền và được chấp nhận cả những rủi ro sáng tạo”, GS Vân nhấn mạnh.
Cuộc cạnh tranh công nghệ toàn cầu hiện nay thực chất là cuộc cạnh tranh về con người. Quốc gia nào có được những “kiến trúc sư trưởng” đủ tầm nhìn để dẫn dắt các ngành công nghệ chiến lược, quốc gia đó sẽ có lợi thế trong cuộc đua phát triển tương lai.
Những “tổng công trình sư” sẽ khó xuất hiện nếu môi trường vẫn còn tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm và thiếu những bài toán đủ lớn để thử thách con người.