Ông Nguyễn Văn Tâm, chủ một cơ sở trồng sầu riêng tại Đắk Lắk, trước đây cho rằng mã số vùng trồng chỉ là một loại “giấy phép” để đủ điều kiện xuất khẩu. Tuy nhiên, sau khi một lô hàng bị phía Trung Quốc cảnh báo dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng, toàn bộ mã số vùng trồng của hợp tác xã bị tạm dừng, ông đã phải suy nghĩ lại.
Công cụ kiểm soát chất lượng
“Trước đây làm theo kinh nghiệm, giờ phải ghi chép từng lần phun thuốc, từng loại phân bón, kiểm tra sinh vật gây hại thường xuyên. Chỉ cần một hộ làm sai là cả vùng bị ảnh hưởng”, ông Tâm chia sẻ.
Không chỉ nông dân, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cũng đang chịu áp lực lớn từ các quy định kiểm soát ngày càng chặt chẽ. Đại diện một doanh nghiệp đóng gói trái cây tại Đồng Tháp cho biết, trước đây doanh nghiệp chỉ tập trung thu mua đủ sản lượng để giao hàng. Nhưng hiện nay, mỗi lô hàng đều phải lưu đầy đủ hồ sơ vùng trồng, nhật ký canh tác, kết quả kiểm tra dư lượng và quy trình xử lý đóng gói.
Có thời điểm đối tác trả lại cả container chỉ vì thông tin truy xuất giữa vùng trồng và cơ sở đóng gói chưa đồng nhất. Thiệt hại không chỉ là chi phí logistics mà còn ảnh hưởng uy tín với khách hàng quốc tế. Để giữ được thị trường xuất khẩu lâu dài, doanh nghiệp buộc phải đầu tư lại toàn bộ chuỗi liên kết với nông dân.
Nếu như trước đây, nhiều nơi vẫn coi mã số vùng trồng chủ yếu là điều kiện để “đủ hồ sơ xuất khẩu”, thì hiện nay bản chất của hệ thống mã số đã thay đổi hoàn toàn. Các nước nhập khẩu, đặc biệt là Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Australia, không chỉ yêu cầu có mã số mà còn áp các điều kiện kỹ thuật liên quan đến sinh vật gây hại, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật... Điều này đồng nghĩa mã số vùng trồng đã trở thành công cụ kiểm soát chất lượng và uy tín của nông sản.
Ngoài ra, trong bối cảnh các thị trường ngày càng siết chặt hàng rào kỹ thuật, hệ thống mã số vùng trồng cũng đang góp phần thay đổi tư duy sản xuất của nông dân và doanh nghiệp theo hướng chuyên nghiệp, minh bạch và bền vững hơn. Hệ thống mã số còn giúp cơ quan quản lý nhanh chóng khoanh vùng và xử lý khi xảy ra vi phạm. Thay vì ảnh hưởng tới toàn ngành hàng, việc truy xuất chính xác từng vùng trồng và cơ sở đóng gói sẽ giúp hạn chế nguy cơ bị cấm nhập khẩu trên diện rộng, qua đó bảo vệ thương hiệu nông sản Việt Nam.
Địa phương là mắt xích quyết định
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tính đến tháng 5/2026, cả nước đã có 9.546 mã số vùng trồng và 1.525 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn. Riêng thị trường Trung Quốc hiện có 4.323 mã số vùng trồng và 1.332 mã số cơ sở đóng gói được phê duyệt.
Tuy nhiên, song hành với sự phát triển nhanh là nguy cơ vi phạm gia tăng. Chỉ tính từ năm 2025 đến nay, đã có 403 mã số vùng trồng và 240 mã số cơ sở đóng gói nhận cảnh báo không tuân thủ từ phía Trung Quốc; trong đó 167 mã số vùng trồng và 99 mã số cơ sở đóng gói đã bị tạm dừng hoặc thu hồi.
Nguyên nhân được cho là trong thời gian qua, ở một số địa phương vẫn tồn tại tình trạng chạy theo số lượng, tập trung vào việc được cấp mã mà chưa chú trọng đúng mức tới công tác hậu kiểm, giám sát sau cấp mã. Việc ghi chép nhật ký sản xuất, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát sinh vật gây hại hay dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ở nhiều nơi còn mang tính hình thức.
Trên thực tế, cơ quan Trung ương không thể thay địa phương kiểm tra từng vùng trồng, từng cơ sở đóng gói hay giám sát từng lô hàng xuất khẩu. Nếu địa phương không chủ động hậu kiểm, không phát hiện sớm vi phạm hoặc buông lỏng quản lý thì nguy cơ bị nước nhập khẩu cảnh báo, siết kiểm tra hoặc tạm dừng nhập khẩu là rất lớn.
Chính vì vậy, điểm đáng chú ý của Nghị định 38/2026 vừa được ban hành là lần đầu tiên trách nhiệm và quyền hạn của từng cấp được quy định rõ trong một văn bản thống nhất của Chính phủ, bao trùm toàn bộ quy trình từ tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra, cấp mã số đến giám sát, tạm dừng, phục hồi hoặc thu hồi mã số.
Cụ thể, UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói trên địa bàn; chỉ đạo cơ quan chuyên môn kiểm tra, giám sát, hậu kiểm và xử lý vi phạm. Đồng thời, địa phương phải bố trí nguồn lực, nhân lực và kinh phí để duy trì hoạt động quản lý.
Bên cạnh đó, quy định mới cũng thiết lập tương đối đầy đủ cơ chế tạm dừng, phục hồi và thu hồi mã số với trình tự, biểu mẫu và thời hạn xử lý rõ ràng. Đây được xem là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm và kỷ cương trong quản lý. Không chỉ cơ quan quản lý, các tổ chức, cá nhân được cấp mã số cũng phải có trách nhiệm duy trì điều kiện kỹ thuật, thực hiện ghi chép, lưu trữ hồ sơ, phối hợp giám sát và truy xuất nguồn gốc theo yêu cầu.
Theo Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung, nếu không quản lý tốt mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói thì chỉ một số trường hợp vi phạm cũng có thể ảnh hưởng đến cả ngành hàng, thậm chí tác động tới uy tín quốc gia và khả năng duy trì thị trường xuất khẩu.
Nghị định mới là bước hoàn thiện thể chế nhằm xây dựng nền sản xuất nông nghiệp chuyên nghiệp, minh bạch và có trách nhiệm hơn với thị trường. Trong quá trình đó, địa phương chính là mắt xích quyết định để bảo vệ uy tín nông sản Việt Nam. Thứ trưởng đề nghị các địa phương mạnh dạn phân quyền nhiều hơn cho cơ quan chuyên môn nhằm rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, đẩy nhanh tiến độ cấp mã số và bảo đảm quyền lợi cho người dân, doanh nghiệp.
Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói; tiến tới số hóa toàn bộ quy trình từ tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra thực địa, cấp mã số đến giám sát, cảnh báo và xử lý vi phạm.
“Nghị định 38 không chỉ là văn bản pháp lý về quản lý mã số vùng trồng hay cơ sở đóng gói, mà còn mở ra giai đoạn mới cho tư duy quản lý nông sản xuất khẩu theo hướng chuyên nghiệp, minh bạch và có trách nhiệm hơn với thị trường quốc tế”, Thứ trưởng Hoàng Trung khẳng định.