Cạnh tranh thời TPP - “tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu”
Công ty TNHH MTV Đầu tư và phát triển nông nghiệp Hà Nội được coi như “địa chủ” nhất thủ đô khi đang nắm giữ 2.300 ha đất gồm những cánh đồng trồng rau, trồng hoa, trồng cây ăn trái, những trang trại nuôi gà, nuôi lợn giống, những đồi chè... Các sản phẩm của công ty này đã “phủ sóng “ ở địa bàn thủ đô, nhưng tất cả sẽ thay đổi khi thịt bò, thịt lợn, thịt gà, trứng sữa đến từ Mỹ, Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân chất lượng cao, giá thành rẻ tràn vào Việt Nam.
Ông Lê Văn Tuấn, Bí thư Đảng ủy Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Đầu tư và phát triển nông nghiệp Hà Nội cho hay: “Để cạnh tranh thời TPP, tôi nghĩ chỉ có cách phát huy các thế mạnh của mình, “tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu”. Nếu như đùi gà nhập từ Mỹ về giá chỉ 20 nghìn đồng/ cân, trong khi đùi gà mình nuôi bán 60 nghìn đồng/cân. Cùng thời gian, Việt Nam chỉ nuôi được 1 tạ lợn trong khi Mỹ nuôi được 2,5 tạ. Nếu không tìm một cách đi riêng cho mình, thì không thể cạnh tranh được. Với gà, thay vì nuôi gà công nghiệp lông trắng mà biết chắc là sẽ không thể cạnh tranh được với các nước TPP như Mỹ, chúng tôi phát huy thế mạnh của mình, đó là các giống gà lông mầu, đặc biệt là gà đặc sản thuần Việt như gà mía, gà lương phượng, gà ri và kết hợp với Viện Chăn nuôi để lai tạo nhiều giống gà mới. Tôi tin người Việt sẽ lựa chọn gà bản địa vì rõ ràng nó ngon hơn và phù hợp với khẩu vị truyền thống. Với cách làm như vậy, sản phẩm gà chắc hẳn sẽ cạnh tranh được. Nhưng mặt hàng thịt lợn có cạnh tranh được không vẫn là một câu hỏi lớn. Sau TPP, thịt lợn chắc chắn sẽ rẻ, nhất là lợn từ Mỹ. Chúng tôi sẽ nhập công nghệ từ Mỹ về để phát triển giống lợn bản địa. Nếu nhập giống lợn từ Mỹ thì thủ tục rất phức tạp, mặt khác lợn Mỹ chủ yếu thịt nạc, trong khi khẩu vị người Việt lại thích thịt xen nạc với mỡ. Cần thời gian để lai tạo ra giống lợn cho loại thịt như vậy”.
Với sản phẩm thịt bò, Công ty TNHH MTV Đầu tư và phát triển nông nghiệp Hà Nội xác định không cạnh tranh nổi vì quy mô đồng cỏ, điều kiện tự nhiên của Việt Nam thua xa Mỹ, Ô-xtrây-li-a... Vì vậy họ chủ động nhập khẩu thịt bò về Việt Nam chế biến, đóng gói và bán ra thị trường, tạo giá trị gia tăng từ thương mại... Về lĩnh vực trồng trọt, công ty này sẽ đầu tư những giống lúa đặc sản của Việt Nam như nếp cái hoa vàng, gạo sén cù, gạo Hải Hậu, gạo Điện Biên. Họ sẽ phối hợp với Viện Lương thực và đối tác Nhật Bản để nghiên cứu lai tạo ra những giống lúa mới theo hướng chất lượng cao chứ không trồng đại trà. Ông Lê Văn Tuấn chia sẻ: “Khi vào TPP, về lĩnh vực nông nghiệp, tôi cảm thấy cơ hội vẫn nhiều hơn thách thức, vì Việt Nam là đất nước nông nghiệp. Nhưng muốn nắm bắt được cơ hội thì còn nhiều việc phải làm. Đặc biệt nông sản Việt Nam hầu như chưa tạo được thương hiệu khi xuất khẩu, khâu chế biến bảo quản còn quá kém. Mặt hàng nếp cái hoa vàng chúng tôi xuất khẩu vào châu Âu bao nhiêu cũng hết nhưng lại không có thương hiệu. Nhiều doanh nghiệp cùng xuất khẩu mặt hàng này vào châu Âu, mỗi doanh nghiệp xuất với một nhãn mác khác nhau, nhiều nhãn mác nhưng lại không tạo ra được thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam vì thế giá trị gia tăng rất thấp. Một cân trà chúng tôi làm bán chỉ được 200 nghìn đồng, nhưng nếu thêm thương hiệu Nhật vào bán được 1,6 triệu, mà chất lượng như nhau”.
Sức nóng của TPP đã phả vào trong các cuộc họp giao ban của công ty này. Họ lập ra một bộ phận chuyên về xuất nhập khẩu để thâm nhập thị trường các nước TPP. Nhưng tuyển mãi mới chỉ được một cán bộ làm công tác xuất nhập khẩu đáp ứng được yêu cầu. Nhân lực - xem ra lại là “khâu yếu” không chỉ của ngành nông nghiệp trong cuộc chiến cạnh tranh TPP.
Muốn vượt “cửa ải” TPP, cần hướng tới sự phát triển bền vững
TS Võ Văn Quang - Phó Tổng giám đốc Ngân hàng Bắc Á - doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng thương hiệu sữa TH True Milk nhận định: “Chất lượng các sản phẩm nông nghiệp kém là thử thách lớn nhất đối với nông nghiệp Việt Nam khi vào TPP. Sản lượng của chúng ta có thể ngang bằng, như lúa gạo đã có lúc vươn lên trở thành nước xuất khẩu đứng đầu thế giới, nhưng chất lượng thì thua xa gạo Thái-lan, thậm chí bây giờ thua cả Cam-pu-chia.
Sản phẩm nông nghiệp của ta đạt tiêu chuẩn xuất khẩu quá ít, hàm lượng khoa học kỹ thuật trên mỗi sản phẩm quá thấp. Nhật - một thành viên của TPP có tư duy rất khác mình, tất cả sản phẩm họ làm ra đều đạt tiêu chuẩn quốc tế và trước hết phục vụ người tiêu dùng trong nước, sau mới xuất khẩu. Nhưng Việt Nam thì thường những sản phẩm chất lượng cao dành cho xuất khẩu, chất lượng thấp để tiêu dùng nội địa. Tư duy này không thể là tư duy của doanh nghiệp. Ngay từ đầu xây dựng sản phẩm sữa TH, chúng tôi đã đặt mục tiêu đây phải là một sản phẩm có chất lượng và thương hiệu quốc tế”.
Ông Quang cho hay, với tâm thế nhìn thẳng vào những yếu kém lẫn thế mạnh của nông nghiệp nước nhà, doanh nghiệp đã xác định đầu tư vào công nghệ cao một cách đồng bộ. Họ chọn công nghệ của Israel - đất nước có điều kiện tự nhiên còn khắc nghiệt hơn Việt Nam nhưng sản lượng bò đứng thứ hai thế giới vì nuôi bằng khoa học kỹ thuật. Mô hình quản trị, công nghệ máy móc của Israel - giống bò Niu Di-lân, cỏ từ Mỹ, kỹ thuật chế biến sữa từ Thụy Điển, Ô-xtrây-li-a - những gì tốt nhất thế giới trong các lĩnh vực này, được đưa về trên những cánh đồng đất đỏ của huyện miền núi Nghĩa Đàn - Nghệ An. Một phương thức sản xuất hiện đại ở tất cả các khâu được bắt đầu trên vùng đất còn rất lạc hậu ấy. Hiện đại từ máy tưới cỏ, từ những gọng cỏ thu hoạch về cũng phải qua chế biến, từ chíp gắn vào từng con bò... Theo TS Quang đây là cách làm tạo sự đột phá đối với nông nghiệp. Với cách làm này, mỗi héc-ta đất có thể sinh lợi từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng hằng năm (trong khi đó mỗi héc-ta đất nông nghiệp hiện nay chỉ có thể sinh lợi bình quân 50 triệu đồng).
“Khi vào TPP, TH đủ sức cạnh tranh với sữa của các nước có thế mạnh về sữa như Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân, vì ngay từ đầu chúng tôi đã chủ trương xây dựng một thương hiệu sữa mang tầm quốc tế. Cái quan trọng là mình có giữ được vị trí trong lòng người tiêu dùng hay không, chứ không phải các sản phẩm từ những nước TPP vào thị trường Việt Nam bằng cách nào. Xét cho cùng, tôi thấy mình vẫn có nhiều ưu thế hơn họ. Công nghệ hiện đại thế giới, sản xuất tại Việt Nam, lao động Việt Nam rẻ hơn, chi phí vận chuyển rẻ hơn, sao phải sợ? Cái tôi sợ nhất chính là tính không minh bạch, hàng giả, hàng nhái, sợ cách làm “mập mờ đánh lận con đen”... TPP là cơ hội để nông nghiệp Việt Nam thay đổi, vượt qua chính mình, phải tạo ra một cuộc cách mạng trong nông nghiệp. Mà theo tôi, trong cuộc cách mạng đó, doanh nghiệp phải là lực lượng nòng cốt, đủ lớn, đủ tầm để dẫn dắt cuộc chơi, đủ tạo ra được thị trường. Đến bao giờ hết cảnh được mùa mất giá, mất mùa được giá? Chẳng lẽ thị trường của cả một nền nông nghiệp lại phụ thuộc vào thương lái, mà thương lái thì chỉ cái gì có lợi nhuận cho họ thì họ làm”.
Ông Quang cho rằng, nông nghiệp Việt Nam muốn vượt qua “cửa ải” TPP phải hướng tới sự phát triển bền vững, bền vững từ trong tư duy người lãnh đạo đến ý thức người nông dân. Những 1% doanh nghiệp nông nghiệp vốn đã rất bé nhỏ, mà trong số ít ỏi đó, ai nghĩ tới điều này mà có nghĩ cái khó liệu có bó cái khôn?
Trong một hội nghị về tác động của TPP với nông nghiệp ở Việt Nam mới đây, đa số các doanh nghiệp nông nghiệp đều tỏ ra hào hứng với cơ hội mới này nhưng cũng bi quan về ”đường xa” phía trước.
Ông Nguyễn Thái Dương - chủ một doanh nghiệp chuyên cung cấp trứng sạch ở Bắc Ninh ví von TPP giống như nồi nước đang nóng dần lên, các doanh nghiệp như những con ếch ở trong đó, phải cảm nhận được sự tăng nhiệt để sinh tồn nếu không sẽ bị chết khi nào không hay. Ông Dương tâm sự: “Nghĩ về tương lai với TPP không tránh được tâm trạng bi quan, nhưng ngồi mà lo thì giải quyết được gì. Cũng không nên chọn kiểu đà điểu rúc đầu vào cát, mà phải dám đối mặt với thách thức, tôi tin vào tính linh hoạt, nhanh nhạy của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam. Tuy phải cạnh tranh với những tập đoàn khổng lồ đến các nước phát triển, nhưng thời buổi này không phải lớn thắng nhỏ, mà nhanh thắng chậm. Vậy thì phải nhanh lên chứ!”.