Từ vị trí đứng giữa hai nền văn hóa
Có lẽ chính vì thứ năng lượng nội sinh sục sôi, lúc nào cũng réo gào đòi bung vỡ, công phá ấy mà những tác phẩm nghệ thuật chất lượng cao “đóng dấu” Nhất Lý, trong khoảng thời gian ngắn ngủi, cứ nối nhau liên tục ra đời. Đồng nghiệp, sau lưng ông, thường nói vụng, “phải điên đủ độ ngoài đời mới thừa thãi năng lượng thăng hoa để điên trong nghệ thuật”. Nhất Lý không giận, ông hùng hồn, “tôi là người nghệ sĩ tuyệt đối tự do, tôi sẽ luôn nói những gì tôi nghĩ, làm những điều tôi thích”. Luôn tư duy và sáng tạo với cường độ làm việc rất cao, nhìn vào khối lượng công việc đồ sộ đã, đang và sẽ thực hiện trong tương lai gần, có cảm giác như ông đang chạy đua giành giật từng thời khắc, với quỹ thời gian đời người ngày một hạn hẹp vậy.
Mang trong mình hai dòng máu Pháp - Việt, Nhất Lý tự nhận vị trí của mình luôn chông chênh “ở giữa” hai nền văn hóa, vốn dĩ cực kỳ khác biệt. Người Việt gọi ông là “Tây lai”. Trong những ngày tháng ở Pháp vật vã mưu sinh bằng nhiều công việc như rửa bát, lái ta-xi, chạy giấy văn phòng, chơi nhạc ở phòng trà..., người Pháp cũng chưa bao giờ coi ông thật sự là đồng bào của họ. Nhưng ông biết, gốc gác Việt, tâm hồn Việt chiếm phần rất lớn trong con người mình. Bởi thế, từ vài năm nay ông đã chọn quay về định cư tại dải đất hình chữ S quê cha. Bởi, “nếu ở Pháp, tôi làm sao được thăng hoa, được thỏa mãn cái tôi sáng tạo bằng những tác phẩm chắt lọc từ tinh chất nghệ thuật bản địa trong nước và cái nôi khu vực Đông-Nam Á như thế”. Dù ông về nước với hai bàn tay trắng. Dù hiện tại vẫn đang ở nhà thuê, căn nhà ven hồ Tây rất rộng mà ông đang đặt phòng thu Phù Sa Lab của mình.
Ở chiều ngược lại, độ lùi không gian - thời gian cùng tình yêu, quá trình trải nghiệm, học hỏi, hấp thụ tinh hoa của cả hai nền văn hóa Đông - Tây đã giúp ông nhìn rõ chân giá trị, giúp ông phân định rành rẽ sự khác biệt trong góc nhìn thẩm mỹ, biết người xem cần và muốn gì. Để từ đó cho ra đời những sản phẩm vừa thuyết phục được công chúng trong nước, vừa đủ sức vươn xa và chinh phục những chân trời mới lạ. Theo nghệ sĩ, “điều đó không ai cho, cũng chẳng ai có thể dạy. Chỉ trải nghiệm thực tế trong môi trường làm nghề nhiều năm, phải lăn lộn làm việc và học tập trong đời sống châu Âu gần nửa cuộc đời mới có được”.
Có cảm giác như ông đang chạy đua giành giật từng thời khắc, với quỹ thời gian đời người ngày một hạn hẹp vậy.
Đến những làn gió mới mát lành
Khác với những hào nhoáng, rực rỡ của sân khấu xiếc truyền thống đã quá quen thuộc với khán giả trong nước, Làng tôi tái hiện một thế giới sắc màu mới mẻ, bình dị, nhẹ nhàng và tinh tế. Dàn diễn viên của Làng tôi tung tẩy trên sân khấu tròn với những bộ quần áo nâu sồng rộng rãi, với sắc vàng nhạt khiêm nhường của tre. Cùng với những cộng sự thân thiết Tuấn Lê, Nguyễn Lân Maurice, bộ ba nghệ sĩ Việt kiều đã thổi một làn gió mới vào đời sống nghệ thuật biểu diễn nước nhà, khi đưa nhịp sống dân dã của một làng quê Việt lên sân khấu tròn. Diễn viên múa bằng những ống tre, đi lại, nhào lộn trên những thân tre, tung hứng bằng rổ rá làm từ cây tre, sân khấu được thiết kế với những tấm mành tre làm nền. Cùng nâng bước với xiếc, với tre còn có những câu hò, điệu hát đậm chất dân gian và phong vị làng quê ba miền. Hơn mười loại nhạc cụ truyền thống được các nghệ sĩ đến từ Nhà hát Chèo Việt Nam “pha thanh góp sắc” khá tự nhiên và tương đối ngẫu hứng, với những làn điệu từ Ru con Nam Bộ đến Bắc Kim Thang. Từ tiếng cồng chiêng Tây Nguyên đến câu hò khiêng tre ở dải đất miền trung cực nhọc, từ ca trù đồng bằng Bắc Bộ đến nhịp vui xòe vùng cao Tây Bắc...
Làng tôi còn vẹn nguyên sức nóng, Nhất Lý đã kịp trình làng À Ố Show. Một bản hòa âm điền dã của đồng quê, pha trộn những hợp âm nhộn nhạo, trẻ trung của một Việt Nam thời đô thị hóa, với sự hòa giọng của 17 nhạc cụ truyền thống được biểu diễn trực tiếp. Những quang gánh, gậy gộc, thuyền thúng, banh chuyền, thúng mẹt... giúp cây tre tiếp tục “lên ngôi”, trong một “mâm cỗ” được bày biện nhiều “món ngon” từ xiếc tre, nhào lộn đến múa đương đại, kịch câm, tuồng cổ, nhảy hip hop... Cây tre bình dị đã đưa cả hai vở diễn đi xa, với những bản hợp đồng lưu diễn châu Âu kéo dài ba năm. Xiếc tre đã nhận về bao lời ngợi khen, đã định vị một bản sắc Việt Nam, trong dòng chảy xiếc thế giới.
Sau xiếc tre, Sương sớm là thể hiện khác lạ của Nhất Lý, một vở múa đương đại kết hợp ballet bán cổ điển huyền hoặc. Nơi những vật liệu thân thuộc nhất với người nông dân Nam Bộ, từ rơm rạ, cây lúa, hạt gạo, cây tre tới bó nhang vòng, chiếc mõ, đôi guốc gỗ, tấm áo bà ba... hiển hiện sinh động, hấp dẫn trên sân khấu. Nơi những âm thanh của đời sống, của thiên nhiên, của nhạc khí dân tộc, nhạc cụ điện tử, máy tính cùng các phần mềm dành riêng cho âm nhạc cùng chung tay mang lại một không gian văn hóa Việt đặc trưng. Đặc biệt, tác phẩm kế tiếp Teh Dar như một hóa thân mãnh liệt của văn hóa Tây Nguyên trên sân khấu đương đại. Vẫn trung thành với những đạo cụ tre nhưng vở diễn có thêm chiếc gùi cùng mặt nạ gỗ của người Ê Đê. Có sự tham gia của cả dàn nhạc công, ca sĩ cùng hơn 20 nhạc cụ truyền thống bản địa như cồng chiêng, đàn goong, đinh năm, T’rưng, tù và, lục lạc..., Teh Dar đưa người xem vào cuộc săn voi, những đêm trăng hò hẹn, hình ảnh rừng già ẩn dụ cái chết và sự tái sinh.
Bốn vở diễn kể trên, sau những ngày lưu diễn, vẫn đều đặn đến với công chúng trong nước, với giá vé không hề rẻ - từ hơn 600 nghìn đến xấp xỉ một triệu rưỡi. Và vẫn được khán giả ủng hộ, hết tháng này qua năm khác, đủ để thấy sức hấp dẫn và giá trị nghệ thuật của các tác phẩm đạt tới mức độ nào.
Cuối năm 2017 vừa qua, ông và nhóm cộng sự đã cho ra mắt Dàn nhạc đại diện Đông-Nam Á Seaphony, bằng buổi diễn mang tên Đêm vô thức bản địa. Một chương trình, mà nói như một nhà báo chuyên trách mảng âm nhạc nhiều năm, “đẹp đến rớt nước mắt”. Bởi, “nếu bạn yêu nhạc và muốn kiếm tìm một thứ gì đó chưa từng có nhưng lại dễ nghe, dễ cảm thì đây là sự lựa chọn tối ưu”. Quy tụ hơn 50 nghệ nhân, nhạc công, nhạc sĩ thuộc nhiều dân tộc anh em, thuộc mọi vùng miền trên cả nước, dàn nhạc này độc đáo và vô cùng khác biệt nhờ chọn cách khai thác thanh âm nguyên sơ từ các nhạc khí bản địa (từ đàn môi, kèn lá, chiêng trống, đàn đó, đàn goong...), tận dụng chất liệu âm nhạc nguyên gốc, kết nối ý đồ để tạo thành tác phẩm. Dự án S.E.A Sound mà Nhất Lý làm Giám đốc sẽ kéo dài ba năm. Ở điểm kết thúc, như ông hy vọng, “cái phôi” của Seaphony sẽ chính thức thành hình.
Việc dàn nhạc dân tộc bản địa có quy mô sánh ngang một dàn nhạc phương Tây này, cũng như thể loại xiếc tre độc đáo mà Nhất Lý đắp xây nền móng có thể trở thành dòng chảy hay không, có thể đi xa tới đâu không còn là câu chuyện của riêng người nghệ sĩ tài năng và tâm huyết. Nhưng từ những đốm lửa ban đầu ấy, nếu đồng nghiệp biết tận dụng và khai thác tối đa “cái phôi” khác biệt độc đáo đó thì tới một lúc nào đó, bè bạn quốc tế sẽ nhắc đến chúng - như một thương hiệu riêng có, chỉ của Việt Nam. Nhất Lý quá kiêu hãnh để nói ra, nhưng tôi biết, thẳm sâu trong trái tim ông luôn mong chờ điều đó.
Làng tôi, À Ố rồi Teh Dar, Sương sớm... - những vở diễn có Nhất Lý góp mặt ở nhiều vai trò (tác giả, đạo diễn sân khấu, đạo diễn âm nhạc, nhà sản xuất...) luôn khiến giới truyền thông ngạc nhiên, khi bảo đảm được cả ba tiêu chí: mới lạ, độc đáo - hấp dẫn, mang tính giải trí cao. Ba yếu tố này vốn dĩ rất khó song hành trong đời sống nghệ thuật nước nhà, khi sản phẩm chất lượng nghệ thuật cao thường lỗ, còn tác phẩm có lãi thường phải chọn hướng đi dễ dãi, chiều theo thị hiếu số đông.
Cảnh trong vở diễn À Ố Show.