15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII)

Đổi mới và hoàn thiện chính sách văn hóa

Hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" đã góp phần tôn cao nền tảng văn hóa tinh thần của dân tộc, hoàn thành tốt chiến lược con người, từng bước hiện thực hóa những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của văn hóa trong sự phát triển con người toàn diện. Cũng trong bối cảnh đó, văn hóa Việt Nam đã và đang hội nhập quốc tế mạnh mẽ và sâu rộng hơn với thế chủ động nắm bắt thời cơ và sẵn sàng vượt qua thách thức.

Quảng bá quan họ Việt Nam - Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại Pháp
Quảng bá quan họ Việt Nam - Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại Pháp

1. Toàn cầu hóa thúc đẩy hội nhập văn hóa diễn ra mạnh mẽ và rộng khắp. Sự tác động qua lại và chuyển giao văn hóa này có ảnh hưởng rất đáng kể tới phong cách sống của con người và tới cả sự sáng tạo văn hóa của đất nước ta. Nhận thức và ý thức của chúng ta về bảo tồn các di sản văn hóa và bản sắc, bảo vệ sự đa dạng văn hóa của mình trong một thế giới toàn cầu hóa về kinh tế và công nghệ cũng đã và đang được nâng cao một cách rõ rệt, nhằm bảo vệ ngày càng tốt hơn sự sáng tạo văn hóa của đất nước trước những ảnh hưởng và tác động của quá trình này.

Trong sự tác động và ảnh hưởng của kinh tế thị trường, của quá trình CNH, HĐH, trên đất nước ta cũng đã và đang ra đời những hình thức mới của sự sáng tạo văn hóa: Sản xuất văn hóa, công nghiệp văn hóa và thị trường văn hóa. Những hình thức mới của sáng tạo văn hóa này có tác động đa chiều tới cả sự sáng tạo cá nhân lẫn sự hưởng thụ của đông đảo nhân dân. Tuy nhiên, nền công nghiệp văn hóa vốn coi trọng lợi ích kinh tế sẽ tạo áp lực không thể tránh khỏi giữa một bên là những mục tiêu văn hóa cơ bản nhất và một bên là tính chất thị trường; hoặc giữa một bên là những quan tâm có tính thương mại và một bên là mong muốn một nội dung phản ánh được sự phong phú, đa dạng của văn hóa. Do đó, trong văn hóa càng bộc lộ những xu hướng biến đổi phức tạp và những diễn biến vượt tầm kiểm soát.

Thí dụ, trong quá trình hội nhập mạnh mẽ ấy, đã có cơ hội cho sự du nhập những tư tưởng, lối sống phương Tây đang gây ra những tác động đa chiều trong đời sống tinh thần, đạo đức xã hội, dẫn đến những biểu hiện mơ hồ trong tư tưởng nhận thức ở một bộ phận văn nghệ sĩ. Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, khuynh hướng chủ đạo của văn hóa nước nhà vẫn kiên trì quan điểm bảo vệ độc lập tự chủ, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam đồng thời với việc xác lập tính chất song hành giữa cá tính sáng tạo và trách nhiệm xã hội của giới nghệ sĩ trong cơ chế thị trường. Đồng thời chấp nhận khuynh hướng đa dạng hóa văn hóa nghệ thuật.

2. Cũng trong bối cảnh ấy, bảo vệ quyền tác giả đã trở thành một nguyên tắc cơ bản. Công nghệ số, các sản phẩm nghe nhìn, các sản phẩm truyền thông đại chúng đôi khi đã và đang vi phạm quyền tác giả. Việc thích ứng với công nghệ không biện hộ cho việc phá bỏ những chuẩn mực và những quy tắc chung; trái lại luật bản quyền phải được mở rộng nhằm bảo vệ quyền lợi của nghệ sĩ cũng như bảo đảm một cách chung nhất những công việc mang tính sáng tạo. Mặt khác, các thể chế bảo vệ bản quyền được xã hội ghi nhận, cần phải bảo vệ nghệ sĩ, ủng hộ các phong cách nghệ thuật, phong cách biểu đạt mới, nổi trội, giàu kinh nghiệm và trí tuệ.

Những đòi hỏi trên đây về sự đổi mới sáng tạo văn hóa đã được đáp ứng bởi những chuyển đổi cơ cấu kinh tế - xã hội. Quá trình chuyển đổi này, chúng ta từng bước xóa bỏ quan liêu bao cấp trong kinh tế, đa dạng hóa các thành phần kinh tế, tăng cường sự điều tiết của nhà nước đối với kinh tế vĩ mô, giải phóng mọi tiềm năng kinh tế của nhân dân và điều chỉnh các lợi ích xã hội theo hướng công bằng, dân chủ, văn minh. Trong kinh tế thị trường, sự sáng tạo cá nhân được nhân lên và mở rộng theo hướng công nghiệp hóa và thị trường hóa. Đây chính là cơ hội tốt cho sự phát triển các năng lực cá nhân và tự do cá nhân - một trong những điều kiện cho sự sáng tạo văn hóa nghệ thuật có thể phát triển mạnh mẽ.

3. Tuy nhiên, những đổi mới quy trình sáng tạo văn hóa này cũng đòi hỏi đổi mới thể chế và chính sách văn hóa ở nước ta. Bởi vì, thể chế và chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước luôn luôn là những điều kiện cấp thiết có tính quyết định đối với việc giải quyết nhu cầu và năng lực của sáng tạo văn hóa. Từ đó đến nay, chính sách văn hóa Việt Nam trong thời kỳ này đã thể hiện rõ việc kế thừa các nhân tố tích cực, hợp lý trong thể chế văn hóa giai đoạn trước đây với việc tìm tòi, vận dụng những hình thức, phương pháp quản lý sản xuất, phổ biến và tiêu thụ văn hóa mới... trong điều kiện cơ chế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế.

Sự đổi mới chính sách văn hóa ở nước ta đã diễn ra trên nhiều phương diện: xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về văn hóa; đổi mới phương thức hoạt động, phương thức sản xuất, kinh doanh của các đơn vị sự nghiệp văn hóa, các doanh nghiệp và các cá nhân hoạt động văn hóa; đổi mới trong hoạt động tự quản về văn hóa của các cộng đồng dân cư và phát huy vai trò của các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội, nghề nghiệp và cá nhân trong hoạt động văn hóa (xã hội hóa hoạt động văn hóa); đổi mới trong hoạt động xây dựng các thiết chế văn hóa ở Trung ương và địa phương.

4. Chính sách văn hóa cần trở thành công cụ cho sự phát triển, mở rộng mọi nguồn lực vào phát triển văn hóa của đất nước trong đó phát triển con người là nhiệm vụ hàng đầu và trung tâm. Thể chế văn hóa và chính sách văn hóa đóng vai trò quan trọng có tính quyết định tới sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nhằm đáp ứng nguồn nhân lực cho thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và chủ động hội nhập quốc tế hiện nay.

Một chính sách văn hóa vì sự tiến bộ của con người trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở thời kỳ CNH, HĐH của nước ta có rất nhiều sự khác biệt với các nước khác. Tác động của quá trình toàn cầu hóa, mà qua đó, những vấn đề của xã hội hậu công nghiệp tin học và hậu hiện đại sẽ có những ảnh hưởng vừa tích cực vừa tiêu cực. Nguy cơ rõ rệt nhất của toàn cầu hóa là nhất thể hóa về văn hóa của những nền văn hóa dựa trên nền tảng kinh tế và công nghệ mạnh. Đòi hỏi về đa văn hóa là phản ứng chung có tính quốc tế phát khởi từ châu Âu chống lại cái gọi là văn hóa Mc Donald.

5. Chính sách văn hóa mà ta hướng tới là một chính sách văn hóa hiện thực hóa được những tư tưởng cơ bản trong các nghị quyết của Đảng ta về văn hóa, thực chất là ý chí, quan điểm và định hướng, tạo điều kiện cơ bản để quản lý văn hóa của đất nước với tư cách là phương tiện hiệu quả để thiết lập cuộc sống tốt đẹp đồng thời với việc phát triển một nền sản xuất và thị trường văn hóa lành mạnh. Tất cả được thể hiện qua các công cụ chính sách như: Luật văn hóa, cơ chế tài chính, dân chủ hóa, phân cấp phân quyền, sự liên thông khoa học công nghệ và marketing. Có thể nói, một chính sách văn hóa tốt và có hiệu lực xã hội rộng lớn phải làm sao cho sự phát triển văn hóa đi từ bên ngoài vào bên trong, đi vào cấp tâm lý của con người và cơ chế tinh thần của vô thức cộng đồng. Chính sách văn hóa phải làm sao cho mỗi cá nhân riêng lẻ thân thiện hơn nữa với văn hóa. Chính sách đó phải làm cho văn hóa thấm sâu vào tâm hồn và đánh thức tiềm năng của con người như chúng ta thường nói.

Muốn đạt được mục tiêu cao cả đó, chúng ta cần đổi mới tư duy văn hóa sao cho ngang tầm với đổi mới tư duy kinh tế như chúng ta đã và đang thực hiện. Đổi mới tư duy văn hóa ở đây có nghĩa phải biết đặt phát triển văn hóa ngang tầm với phát triển kinh tế. Biến văn hóa thành nguồn lực nội sinh của quá trình phát triển kinh tế và xã hộ.