Đìu hiu thành Tam Vạn

Được xây dựng hàng trăm năm nhưng mãi đến ngày 22-1-2009, tòa thành cổ mang tên Tam Vạn (hay thường gọi thành Sam Mứn) thuộc xã Pom Lót, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên mới được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công nhận Di tích Quốc gia. Nhưng từ bấy đến nay, chưa một lần được trùng tu, tôn tạo nên thành Tam Vạn ngày càng hoang tàn, buồn tẻ trên mảnh đất Mường Thanh…

Đồi Pom Lót giờ chỉ còn một góc.
Đồi Pom Lót giờ chỉ còn một góc.

Di sản quý

Phác thảo sơ đồ cổ thành Tam Vạn trên nền giấy A4, ông Phó Chủ tịch phụ trách văn hóa - xã hội của UBND xã Pom Lót Lò Văn Việt, còn đánh dấu, ghi tên di tích trong thành. Theo lời người dân Sam Mứn và các tài liệu còn lưu lại thành Tam Vạn do các chúa Lự xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 11-13, có diện tích bằng 1/3 cánh đồng Mường Thanh (khoảng 400 ha). Khu vực thành nội nằm sát ngã ba Pá Nậm, chỗ sông Nậm Rốm đổ vào sông Nậm Núa; có ba ngọn núi: Nàng Nòn (nàng ngủ), Tạo Nòn (chàng ngủ) và Huổi Chọn (suối Chọn). Phía trước thành có hai chiến lũy bằng đất dài ba cây số, cao vài sải tay. Chân lũy có hào sâu, trồng tre kín. Trong thành có đồi Pom Lót, chùa Bua Hom. Lối vào thành có một cửa lớn nằm trên trục đường chính ở phía bắc (nay là quốc lộ 279) được gọi là cửa Tu Đin (Cửa đất) - hay nhất chính đạo (đường chính giữa), hai bên cửa thành là tường thành được đắp bằng đất cao 5 m, mặt thành rộng 5 m, chân thành rộng 10 m và chạy dài về hai phía đông - bắc. Ngoài cửa Tu Đin, thành Tam Vạn còn có hai cửa phụ nằm ở phía bắc và phía đông.

Về tên gọi “Tam Vạn”, có nhiều tài liệu cổ đề cập với những cách giải thích ít nhiều khác nhau. Có sách nói do thành rộng chứa được ba vạn dân binh, lại có sách nói không phải ba vạn dân binh (khẩu) mà là ba vạn gia binh (hộ), trong khi lại có sách nói trong thành có ba vạn cối giã gạo. Song theo cách cắt nghĩa của người dân nơi đây thì Tam Vạn và Sam Mứn đều cùng nghĩa. Bởi như tiếng dân tộc Thái thì “sam” nghĩa là ba; “mứn” nghĩa là vạn.

Còn đâu dấu tích

Quả đồi Pom Lót đã chứng kiến nhiều cuộc tuyên thệ trước khi ra trận hay hội mừng chiến thắng của chúa Lự. Và khi mùa màng, đồi Pom Lót cũng là nơi cúng lễ tạ thần. Nhưng nay đồi Pom Lót lại chia hai tả - hữu bên con đường nhỏ dẫn vào đội 6 mà dấu chân đồi chẳng xác định ở đâu. Bởi đồi giờ đã thuộc sở hữu của mấy chục gia đình người Thái Bình lên khai hoang từ những năm 60 của thế kỷ trước.

Cách đồi Pom Lót hơn trăm mét, dấu tích chùa Bua Hom giờ cũng chỉ còn trong phỏng đoán của người dân nơi này. Như thông tin ông Lò Văn Việt cung cấp, từ tháng 12-2012, khi đoàn khai quật khảo cổ của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia phát hiện một số hiện vật trong vườn nhà ông Lò Văn Thanh (lúc đó thuộc đội 8, bản Pom Lót, xã Sam Mứn) thì người dân địa phương càng có cơ sở để khẳng định, nhà ông Lò Văn Thanh ở trên nền chùa xưa.

Theo con đường nhỏ dẫn vào bản Na Vai, chúng tôi tìm được dấu tích cửa thành ở phía bắc. Chỉ cho tôi góc đoạn thành còn lại phía sau nhà, bà Lò Thị Xương, bản Na Vai cho biết thêm: Do mưa nhiều làm đất trôi từ trên xuống nên bây giờ chỗ có thành chỉ nhô cao hơn chung quanh mấy chục phân, song vẫn phân biệt được đất thành. Bởi đất ở nền thành đặc, dính hơn kiểu như đất đã nhào để làm gạch. Mấy năm trước bà Xương và các gia đình lân cận có nghe cán bộ xã nói về dự án tôn tạo tường thành, thế mà chờ mãi chả thấy ai làm gì thì bà con lại tiếp tục đào ao, làm nhà trên nền tường thành.

Tiếc cho cổ thành

Trên đoạn đường theo thành từ cổng phía bắc sang cổng phía đông có chiều dài chừng ba cây số, tôi đã đi qua hàng trăm gia đình thuộc bốn thôn và ba bản, để tìm lại dấu chân thành. Nơi tôi qua toàn nhà san sát nhà, nhà nằm trên nền tường thành và có đoạn tường thành lại… dưới ao. Ba nghìn mét tường thành trong lịch sử giờ chỉ còn 350 m ở hai đoạn khác biệt khá nguyên vẹn thành gốc. Ấy là một đoạn chừng 300 m nằm ở cửa phía đông giáp với sông Nậm Rốm và một đoạn chạy qua khu đất nhà ông Đinh Xuân Lập. Hỏi sao thành cũ nguyên vẹn ở hai điểm này thì người Thái các bản Na Vai, Thanh Xuân, Pom Lót trả lời rằng: “Nơi ấy có mộ ông bà của chúng tôi và hiện là nghĩa trang của ba bản”.

Men theo đoạn tường thành dẫn ra cửa phía đông giáp sông Nậm Rốm, tôi nghe tiếng máy hút cát chạy xình xịch giữa lòng sông. Cửa phía đông, chân tường thành đã lở từng mảng lớn kéo tụt cả rặng tre trên đỉnh thành. Ngay sát đó, có một ngôi nhà không người ở. Thành cũ vốn hiu quạnh giờ lại thêm hoang tàn, buồn tẻ hơn.

Thực trạng thành Tam Vạn, xã nói không kinh phí; huyện nói chỉ quản lý chung về văn hóa chứ không trực tiếp quản lý thành nên thực trạng thế nào phải về xã. Trong khi thực tế, xã không thể làm gì vì không kinh phí cũng không cả thẩm quyền phân định ranh giới thành ở đâu. Cứ như thế năm này qua năm khác, thành Tam Vạn ngày càng hoang tàn, buồn tẻ trên mảnh đất Mường Thanh…