Cửa bể chiều hôm - Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Phú (Tiếp theo và hết)

Ðến nay họ vẫn giữ lại vài đặc điểm riêng của bộ tộc ấy như: Lưng hơi cong, cổ rụt, tóc xoắn. Họ sống thành cộng đồng, lấy thuyền làm nhà, con cái đẻ ra cứ lổm nhổm trên thuyền như cua. Sản phụ đẻ xong họ ném nhau thai xuống biển. Chúng biết học câu trước khi học đếm, mà học cũng chỉ để nhìn mặt chữ và đếm tiền mà thôi. Người chết, họ phải mua đất trên bờ để chôn, bí quá thì chở sang núi Nam Giới lật đá làm huyệt. Có lần cao hứng, Dũng còn hứa gả em gái cho Tuấn. Nghe Dũng kể, Tuấn đã hình dung ra cô gái đó có chiếc mũi dọc dừa và đôi mắt buồn mơ mộng, Dũng chép miệng và nhìn ra xa như hình dung ra em gái mình ở đâu đó phía cuối chân trời đang nổi mây bồng bềnh. Ðôi mắt của út đã làm cho bao chàng trai mê mẩn. Nghe út nói thèm sim thế là sáng mai vừa chưa tỏ mặt người đã có một chàng trai thập thò ngoài cửa vạt áo cuộn lên đựng đầy sim chín; thì ra chàng ta đêm đó đã thắp đuốc chèo thuyền sang núi Nam Giới để hái sim kịp đem về cho người mình yêu trước lúc trời sáng. Chao ôi, những quả sim mòng mọng nước ấy cứ ám ảnh Dũng mãi. Ðến lúc bị thương nặng trước lúc nhắm mắt Dũng vẫn ao ước được ăn một quả sim chín. Quả sim ấy Tuấn đã hái được ở khe núi mang về, nhưng Dũng không ăn mà chỉ hôn đôi môi lạnh ngắt của mình lên mầu da mọng chín của quả sim và anh khẽ mỉm cười rồi tắt thở...

Ðêm đó, sau khi uống rượu ngà ngà say, Tuấn xuống thuyền con của mình định chèo sang núi thì linh tính một điều gì bất ổn mà chiếc thuyền ra giữa dòng cứ xoay tròn. Một cái xoáy nước lớn như cái lúm đồng tiền của mặt sông phụng phịu làm cho anh bần thần, rã rời tay chèo. Bãi sú đã hiện ra trước mặt. Anh cho thuyền tấp vào, buộc dây vào cây sú. Bỗng nhiên Tuấn nghe tiếng đập nước. Một khuôn hình phụ nữ như được tạo bằng ánh trăng, hai cánh tay trần khỏa vào nước, mái tóc đen dài, đôi bờ vai thon - O Tam!

...Tuấn bế o Tam đặt lên chiếc phản gỗ. Anh cuống quýt mở rương lấy áo cho o bỗng nhìn thấy mấy tấm ảnh kẹp trong cuốn sổ tay rơi ra. Tuấn bàng hoàng kêu lên: Anh Dũng! Người con trai trong ảnh chính là Dũng. Phía đằng sau tấm ảnh có ghi dòng chữ quen thuộc của Dũng: 'Tặng út Tam của

anh - anh Nhì'. Thế mà Tuấn cứ đi tìm mãi. Nguyễn Anh Dũng là tên của một thủ trưởng đặt cho anh sau một trận đánh khá ác liệt. Từ đó các bài báo viết về anh đều lấy tên Dũng - người làng không ai biết chiến công của anh, họ chỉ quen gọi anh là Nhì: là thứ hai con ông Tám Thành, cháu của cố Tứ Lợi ở làng Ngũ Ðại.

*
*   *

Khi nghe tin anh Tuấn cưới o Tam mọi người trong làng ai cũng vui. Từ bữa đó quán o Tam sôi nổi hẳn lên. Các con 'sâu rượu' đãi Tuấn bằng tất cả sự phóng khoáng của dân biển. Một đêm mùa đông khi vãn khách, Tuấn bỗng thấy o Tam lẳng lặng đóng cửa sớm hơn mọi ngày và thắp ba nén nhang lên bàn thờ. Hương trầm thơm đánh thức trong Tuấn bao kỷ niệm. Nhìn lên tờ lịch trên tường, Tuấn chợt giật mình: Ðúng ngày này, năm ấy anh Dũng hy sinh ở trạm quân y tiền phương. Ðến nay o Tam vẫn chưa biết ngày hy sinh của anh mình vì giấy báo tử gửi về đề tên: Nguyễn Anh Dũng, Tuấn hỏi: 'Sao hôm nay em lại thắp hương?'. O Tam bảo: 'Em buồn quá! Nhớ hai anh Nhất và Nhì quá! Tội nghiệp chết mà không biết ngày giỗ'. Ðêm đó, hai người nằm cạnh nhau, o Tam báo cho Tuấn biết tin mừng là o đã có thai. Tuấn khấp khởi mừng. Ðôi bàn tay sần sùi đầy vết sẹo của dây cước ăn vào thịt các đốt ngón tay cứ xoa mãi trên cái bụng phập phồng của o. O Tam kể: Trước lúc lên đường đi bộ đội, anh Nhì đã nói cho anh nghe về mối tình của anh với một cô gái trong làng theo đạo Thiên Chúa giáo. Cô ấy là người hát Thánh ca hay nhất của nhà thờ. Họ thường hẹn gặp nhau ở đồi sim bên núi Nam Giới. Anh đã để lại một giọt máu đó là thằng Sim cháu bà Lục Tú hiện nay. Thằng Sim!- Tuấn thảng thốt kêu lên. Ðúng thằng Sim, cái thằng da thịt trắng trẻo, má phúng phính như con gái, đi cùng thuyền với Tuấn. 'Thế còn mẹ của Sim?'- Tuấn hỏi. 'Mẹ của Sim đã chết khi mới đẻ ra nó'- O Tam rủ rỉ nói- 'Chị ấy đẻ khó, đưa lên bệnh viện, các bác sĩ bảo phải mổ. Hoặc là cứu mẹ thì mất con. Ðược con thì mất mẹ. Chị ấy bảo: 'Ðây là giọt máu duy nhất của anh ấy, của dòng họ ấy, các bác sĩ cứu cháu. Còn tôi thế là toại nguyện rồi. Khi gặp anh ấy bên kia tôi không còn gì phải hối hận'.

Ðến gần ngày o Tam sinh con, Tuấn ở nhà chăm sóc. Ðàn ông vượt biển còn có bạn bè, đàn bà 'vượt cạn' chỉ một mình. Cái đêm o Tam trở dạ, cả cái đám thực khách ở tửu quán gần như không ngủ, họ vừa nhấm rượu vừa lặng lẽ nhìn nhau không ai nói gì. Không khí như chùng hẳn xuống. Bà Hiểu hộ sinh của trạm xá xuống đỡ đẻ cho o Tam ở phòng trong. Ðám đàn ông ngồi ngoài kẻ đun nước người về lấy áo lót cũ của con cái mình cho 'gặp may'. Khi nghe tiếng khóc oa oa của đứa bé, Tuấn đẩy cửa bước vào. O Tam lịm đi. Câu đầu tiên khi o tỉnh dậy hỏi Tuấn: 'Anh ơi con mình có đầy đủ chân, tay, mắt mũi không?'. Tuấn rối rít: 'Lành lặn cả em ạ, bàn tay năm ngón, mũi đẹp lắm, con gái mũi dọc dừa, lớn lên khối chàng mê. Ðôi mắt hơi buồn như Ðức mẹ Maria đồng trinh'. Từ khóe mắt của o Tam những giọt nước nóng hổi lăn xuống gò má, hai tay o ghì  lấy khuôn mặt của Tuấn hôn lên mắt, lên mũi, lên từng vết sẹo chằng chịt của anh. Khuôn mặt rạng rỡ - Bà Hiểu quay mặt giấu đi những giọt nước mắt vào chiếc khăn mỏ quạ của mình.

Sau khi o Tam 'mẹ tròn con vuông', nhiều lúc thấy Tuấn bế con nựng nựng một lúc rồi im bặt. O Tam trực giác một điều gì đó không yên ổn trong Tuấn. O hỏi: 'Hình như anh có điều chi buồn?'. Giọng Tuấn chùng xuống: 'Anh sợ con mình sau này lớn lên nhìn thấy mặt mũi cha'. O Tam lại khóc. Những giọt nước mắt bây giờ không thấm vào lông mèo nữa mà hòa vào má đứa con gái còn đỏ hỏn. Sau một chuyến đi biển dài ngày về, Tuấn bỗng thấy nhà mình đầy ắp tiếng cười của trẻ con. Thì ra lũ trẻ nghe tin Tuấn uốn diều giỏi đã đến nhờ anh làm những con diều sáo ra gò biển thả. Từ đó, bao giờ o Tam cũng dự trữ những túi kẹo dành cho lũ trẻ. Nhất là những đứa bé nhát gan trước cứ thập thò ngoài cửa, thấy Tuấn về là chạy cuống quýt: 'Ông ba bị chúng mày ơi!' bây giờ cũng sà vào lòng anh.

Ðêm tháng ba 'Rét nàng Bân', thuyền của Tuấn đi đánh cá chim. Trước lúc nhổ neo bỗng nghe thấy tiếng o Tam gọi: 'Anh Tuấn ơi!'- Tuấn và thằng Sim sững người lại khi thấy o Tam phăm phăm xuống bến như người mắt sáng - Thì ra, tấm áo len o đan cho Tuấn đêm ấy đã xong nút cuối cùng. Bằng một linh cảm nào đó, o bước đi trong đêm theo sự dẫn dắt của một con người vô hình tìm đúng thuyền của Tuấn. Tuấn vội nhảy lên bờ: 'Em về đi, con đâu?'. O Tam gục vào vai Tuấn. 'Anh ơi! Hay là anh về với em đi! Con em gửi cho bà Thất Bát hàng xóm rồi' - Tuấn nghẹn giọng: 'Anh phải đi, đang mùa cá Chim - bây giờ em về kẻo con mong'. O Tam sững sờ: 'Em không biết đường về nữa đâu'. Tuấn đành nhờ bà Cửu Vạn dắt về.

Chuyến đi biển được rất nhiều cá chim. Con cá chim thật lạ, câu không ăn. Nó bơi thành bầy lấp lánh lật nghiêng, lật ngửa như những chiếc đĩa trắng. Dân biển phải chọn người da dẻ thật trắng bơi vào lưới, cá chim theo người vào luôn. Hôm ấy, ông Mười Hóa ngồi trên cột buồm nhấp nhổm như con thú rình mồi phát hiện ra một bầy cá chim rất lớn. Thằng Sim hăng hái xin lặn xuống nước vì da nó trắng nhất. Tuấn đưa cho nó bát nước mắm sánh mầu cánh gián và dặn: 'Cẩn thận nghe Sim, dạo này lắm mập xà, thấy động phải lên ngay'. Thằng Sim lặn xuống thấy cá đông, nó mê mải bơi một vòng, phía sau chân nó có hàng trăm con cá chim theo nó để vào lưới. Bỗng nhiên ông Mười Hóa kêu lên: 'Sim ơi! Có mập xà, lên thuyền nhanh đi cháu'. Mọi người nhìn về phía cái rạo bằng tre trồng giữa biển khơi thấy lưng con mập xà nổi lên như lưng trâu. Thằng Sim luống cuống, tay chân rối rít không bơi thêm được. Cá mập mắt kém nhưng mũi thính lắm. Nó đang hít hít tìm mồi và bơi về phía Sim. Tuấn bỗng kêu to: 'Sim! Ðứng yên đừng bơi nữa'. Anh vội lấy con dao nhọn chuyên uốn lưỡi câu đâm vào đùi trái của mình và lặn xuống biển phía sau lái con thuyền. Mầu máu đỏ loang tan ra trong nước. Con mập xà ngửi thấy mùi máu quay ngoắt lại tấn công Tuấn. Mọi người tranh thủ kéo Sim lên thuyền. Khi họ quay lại thấy Tuấn đang cầm dao bơi đứng đối mặt với con mập xà. Nhưng sức anh yếu dần, sau một cái quẫy mình của con cá làm cho thuyền nghiêng hẳn đi, Tuấn không còn để lại dấu vết gì ngoài chiếc áo len và chiếc quần bộ đội mầu cỏ úa trên thuyền.

Nghe tin Tuấn chết mất xác, một họa sĩ điêu khắc từng sống nhiều năm ở Hà Nội về hưu ở làng chài này đã nặn cho anh một bức tượng thạch cao theo tấm hình của Tuấn chụp trước lúc lên đường, khuôn mặt đẹp trai, lành lặn, pha chút hào hoa, lãng tử. Ngày hạ huyệt, tất cả thực khách o Tam mù đều có mặt. Họ mặc cho bức tượng chiếc áo len và chiếc quần cỏ úa. O Tam nhờ Sim trồng lên đầu mộ một cây dương. Bây giờ cây dương ấy đã vút cao chẻ ra hai nhánh như hai bàn tay đang ấp ủ nâng đỡ cả bầu trời trong xanh thoảng gợi chút đám mây mầu vẩy cá - Mầu mây báo hiệu mùa bão sắp đến...