Công - tư cùng chung trách nhiệm và lợi ích trong kinh tế di sản

Khi ngân sách dành cho bảo tồn và phát triển hạ tầng của di sản còn hạn chế, mô hình hợp tác công - tư mở ra tiềm năng huy động vốn đầu tư trong phát triển kinh tế di sản. Song hành với quyền lợi, trách nhiệm của mỗi bên cần được cụ thể hóa bằng hệ thống chính sách, quy định pháp lý và chế tài nghiêm khắc.

Việc khai thác kinh tế di sản từ hoạt động ăn uống, biểu diễn trong lòng hang động đặt ra câu hỏi cần lời hồi đáp về tính toàn vẹn của di sản.
Việc khai thác kinh tế di sản từ hoạt động ăn uống, biểu diễn trong lòng hang động đặt ra câu hỏi cần lời hồi đáp về tính toàn vẹn của di sản.

Trách nhiệm ràng buộc với quy định pháp lý

Ở nhiều di tích, danh thắng, khu du lịch, sự tham gia của khối tư nhân thể hiện qua việc đầu tư hệ thống phương tiện di chuyển hiện đại như cáp treo, xe điện, hay cải tạo cảnh quan, nhằm mang lại diện mạo mới, tối ưu hóa trải nghiệm của du khách. Ghi nhận tín hiệu tích cực là vậy, nhưng TS Nguyễn Xuân Nguyên, nguyên cán bộ Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư lại trăn trở, việc cân bằng giữa khai thác dịch vụ và bảo tồn di sản đang trở nên mong manh. Nhất là khi nhiều hoạt động thương mại hóa quá mức gây ra những hệ lụy nghiêm trọng. Có thể kể đến, hoạt động tổ chức tiệc ăn uống ngay trong lòng hang động tại Quảng Ninh. Các đơn vị tổ chức lắp đặt sân khấu, hệ thống loa và đèn công suất lớn, gây tác động lên hệ thống nhũ đá, làm biến dạng môi trường tự nhiên. Bên cạnh đó, các vấn đề về rác thải, ô nhiễm môi trường vịnh hay an toàn đường thủy cũng đặt ra những thách thức lớn cho bài toán kinh tế di sản.

Thực tế này theo TS Nguyên, đang phản ánh nghịch lý trong quản lý di sản. Theo đó, sự xuống cấp của di sản do con người gây ra làm gia tăng áp lực về kinh phí bảo tồn, buộc nhà đầu tư lại tiếp tục thúc đẩy thương mại hóa quá mức, càng đe dọa sự an nguy của di sản. Chưa kể, khi vấp phải ý kiến từ dư luận, lãnh đạo địa phương đôi khi còn lúng túng khi xử lý các vi phạm. Bởi nếu dừng dịch vụ ngay lập tức sẽ gây thiệt hại cho lợi ích của nhà đầu tư và khách du lịch.

132.jpg
Đầu tư vào các phương tiện di chuyển giúp tối ưu thời gian tham quan của du khách.

Nhằm ngăn chặn tình trạng các doanh nghiệp tư nhân khai thác quá mức, PGS, TS Dương Văn Sáu, nguyên Trưởng khoa Du lịch, Trường đại học Văn hóa Hà Nội đề xuất, nên xây dựng khung pháp lý rõ ràng, minh bạch, nhất quán và có tính thực thi cao. Bên cạnh đó, cơ chế giám sát cần được thắt chặt, song hành với việc thiết lập khung chia sẻ lợi ích công bằng. Cơ chế giám sát, cân bằng quyền lợi của các bên liên quan cần được xây dựng trên nền tảng củng cố, phát huy vai trò trung gian của cộng đồng, hiệp hội nghề nghiệp.

PGS Sáu nhấn mạnh, nguyên tắc tiên quyết trong khai thác kinh tế di sản là phải đặt mục tiêu bảo vệ môi trường lên hàng đầu. Để làm được điều này, cơ quan quản lý địa phương phải nâng cao năng lực điều hành, đặc biệt là khả năng xử lý tình huống phát sinh nhằm duy trì môi trường kinh doanh ổn định. Đồng thời, doanh nghiệp phải có trách nhiệm xây dựng một hệ sinh thái văn hóa lành mạnh, nơi quyền lợi của Nhà nước, nhà đầu tư và cộng đồng cùng được bảo đảm.

Hợp tác công - tư trong kinh tế di sản là mô hình cộng sinh bền vững khi đôi bên cùng thể hiện trách nhiệm của mình. Đơn vị công lập kiến tạo cơ chế, chính sách, còn đơn vị phải đặt ra mục tiêu biến di sản thành động lực phát triển, thay vì chỉ là tài nguyên khai thác.

Xóa bỏ tình trạng “bên trọng, bên khinh”

Trong khi nhiều địa phương lâm vào tình trạng bị khai thác quá mức, thì vẫn còn những nơi, đặc biệt ở miền núi lại thiếu doanh nghiệp đỡ đầu, dù sở hữu tài nguyên văn hóa khổng lồ. TS Nguyên chỉ ra, thiếu vắng các hoạt động quảng bá chuyên sâu đang là rào cản khiến di sản vùng cao chưa thu hút được các nguồn lực xã hội. Việc xây dựng những câu chuyện văn hóa, lịch sử hấp dẫn không chỉ đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của du khách, mà còn là cách hiệu quả nhất để chứng minh lợi ích kinh tế với các nhà đầu tư. PGS Sáu cho rằng, thay vì rập khuôn tìm kiếm các “đại bàng” lớn, địa phương có thể cân nhắc mời gọi các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, nhưng có hướng đi phù hợp với văn hóa đặc thù bản địa.

Hạ tầng miền núi nhìn chung chưa tương xứng với tiềm năng di sản, đặc biệt là giao thông còn nhiều hạn chế. Để giải quyết thực trạng này, TS Nguyên đề xuất, Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng các trục đường lớn, vừa phục vụ dân sinh, vừa kết nối các vùng di sản. Đồng hành cùng Nhà nước, doanh nghiệp có thể hoàn thiện những đoạn đường nhánh dẫn trực tiếp vào khu di sản. Sự kết hợp này chỉ hiệu quả khi có một cơ chế phân chia lợi ích rõ ràng, giúp nhà đầu tư yên tâm đóng góp và đơn vị quản lý di sản thực hiện tốt vai trò bảo tồn. Bên cạnh đó, PGS Sáu đặc biệt nhấn mạnh đến trách nhiệm xã hội. Các doanh nghiệp không nên chỉ tập trung vào thị trường thuận lợi, mà cần giúp những vùng có hạ tầng kém phát triển tháo gỡ khó khăn.

Không chỉ gói gọn trong các hoạt động du lịch văn hóa, TS Trần Hữu Sơn, Viện trưởng Nghiên cứu Ứng dụng Văn hóa và Du lịch chỉ ra, kinh tế di sản còn mở rộng sang các sản phẩm đạt chứng nhận OCOP. Mỗi sản phẩm thương mại đều kết tinh từ tri thức bản địa và kỹ năng truyền thống được trao truyền qua nhiều thế hệ. Chính tinh hoa sáng tạo và giá trị di sản đặc trưng đã tạo nên thương hiệu riêng biệt cho các mặt hàng thủ công, ẩm thực địa phương. Việc đầu tư vào phân khúc sản phẩm có nguồn gốc từ tri thức dân gian chính là giải pháp biến vốn văn hóa thành lợi thế thương mại, mang lại thu nhập cho cộng đồng bản địa, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa.