Con người ấy, chính là một cánh cửa

NÓI VỀ NHỮNG TÁC GIẢ ĐÃ TRỞ THÀNH GIÁ TRỊ KINH ĐIỂN CỦA NỀN VĂN CHƯƠNG HUNG-GA-RY THẾ KỶ 20, KHÔNG THỂ KHÔNG NHẮC TỚI BỘ BA “HAI ÔNG MỘT BÀ” NỒNG DANH KHÉT TIẾNG: M. XAN-ĐO (MARAI SANDOR), K. IM-RƠ (KERTEZ IMRE) VÀ S. MA-GĐA (SZABO MAGDA). “HAI ÔNG”, THÌ NGƯỜI ĐỌC VIỆT NAM ĐÃ QUÁ QUEN THUỘC, VÌ ĐƯỢC DỊCH NHIỀU. NHƯNG “MỘT BÀ” - TỨC SZABO MAGDA - CHỈ GẦN ĐÂY MỚI XUẤT HIỆN, QUA MỘT TÁC PHẨM MÀ BÀ CÔNG BỐ LẦN ĐẦU TIÊN CÁCH NAY ĐÃ NGÓT BA MƯƠI NĂM, CUỐN TIỂU THUYẾT TỰ TRUYỆN CÓ NHAN ĐỀ “CÁNH CỬA” (GIÁP VĂN CHUNG DỊCH, CÔNG TY NHÃ NAM VÀ NXB VĂN HỌC, 2015).

Con người ấy, chính là một cánh cửa

Dùng phẩm của mình, hẳn Szabo Magda phải muốn nói tới một hoặc một vài cánh cửa chữ “cánh cửa” để đặt tên cho tác nào đó trong đó, như một vật thể hoặc như một ẩn dụ? Đúng là có vài cánh cửa. Ngay từ trang đầu tiên của cuốn sách, tác giả đã cho xuất hiện cánh cửa đầu tiên: cánh cửa trong những cơn ác mộng của bà. Nó không thể mở được. Nó trơ lỳ, vô cảm. Nó mặc kệ bà “há miệng gào khan như một con cá” khi muốn người ở bên ngoài vào cứu giúp (tr 7). Từ hồi ức về những cơn ác mộng này, cánh cửa thứ hai đã xuất hiện rải rác sau đó, suốt mạch chuyện kể, là cánh cửa nhà bà Szeredas Emerenc - người đã bước vào cuộc đời của nhân vật xưng Tôi/ nữ nhà văn Szabo Magda theo một cách thức dị thường. Cánh cửa ấy là vật thể hiện hữu. Nhưng nó luôn đóng kín trước những con mắt tò mò cư dân hàng phố. Nó im lìm, đầy bí hiểm, vì Emerenc không bao giờ mở cửa cho ai vào, cho dẫu bà luôn sẵn sàng đãi đằng khách khứa một cách rất hào phóng ở hiên nhà mình, ngay trước cánh cửa đóng kín mít ấy.

Nhưng cánh cửa thực sự là cánh cửa, với tư cách biểu tượng của sự che giấu hoặc mở ra những bí mật, thì chính là “con người ấy” - bà Emerenc, người đàn bà mà ngay từ lần gặp đầu tiên đã cho nhà văn, vừa là sự cảm nhận về sức mạnh của một chiến binh trong thần thoại Bắc Âu: “Lửa phần phật quanh người bà, bà cao, xương xẩu, dáng to lớn dù đã đứng tuổi, không béo nhưng vạm vỡ, tỏa ra sức mạnh như một Valkyrie, chiếc khăn bà đội trên đầu cũng giống như một chiếc mũ sắt”, vừa là sự cảm nhận về một khuôn mặt “đơn giản là không thể so sánh với thứ gì khác hơn một mặt hồ phẳng lặng, không một gợn sóng buổi sớm mai”. (tr 12) Emerenc kiếm sống bằng nghề quét dọn, giặt giũ, nấu nướng và quản gia cho những gia đình có yêu cầu. Nhưng, khác với nhân vật mụ quản gia Na-nông của Honore de Balzac - kiểu nhân vật hiện thực với tính cách đơn giản và dễ hiểu như được đặt trên một mặt phẳng - Emerenc của Szabo Magda đa diện và phức tạp hơn rất nhiều. Emerenc làm thuê, nhưng chỉ làm cho những gia đình mà bà thấy chấp nhận được.

Emerenc rất tận tụy với công việc, nhưng lại chủ động đến mức biến nó trở thành thái độ giống như sự đường bệ của một bà chủ. Emerenc nhân hậu rộng lượng với tất cả mọi người, nhưng lại vô cùng nghiệt ngã khi cố tình chỉ trích ai đó, kể cả nữ nhà văn là người mà bà vô cùng yêu mến. Emerenc là người Cơ Đốc giáo, luôn là người Cơ Đốc giáo, nhưng bà không đi nhà thờ, chẳng tin vào cha cố, giáo hội, Chúa trời, thậm chí chẳng bao giờ bà bỏ lỡ cơ hội để chế giễu cay độc những tín điều thiêng liêng của người Cơ Đốc… Với một vài nét phác như trên, đủ để thấy Emerenc, cho dẫu là một con người có thật ở ngoài đời - một “sự thật không thể bị xúc phạm”, như Szabo Magda viết trong lời đầu sách nhân lần tái bản năm 2006 - vẫn hiện diện như một nhân vật của tiểu thuyết, bằng tất cả những đối cực trong chính bản thân mình. Và Szabo Magda, khi viết một tự truyện, vẫn không quên rằng mình là một tiểu thuyết gia, là người gánh vác sứ mệnh phải tìm ra “một mẫu của sự sống trước nay chưa từng được biết đến” (Milan Kundera).

Điều đó được thể hiện ở cách nhà văn kể về mối quan hệ của mình với Emerenc, những góc cạnh của mối quan hệ đó và cả những gì ở đằng sau đó nữa. Chỉ là những câu chuyện sinh hoạt đời thường, thậm chí rất tầm thường, trong không gian một ngôi nhà, một mảnh sân vườn hoặc một con phố, nhưng Szabo Magda đã làm bật lên ở mối quan hệ này một sự khác thường: nó vừa có diện mạo của tình bạn, thậm chí là tình mẫu tử, lại vừa có dáng nét của một sợi dây nối liền giữa những kẻ thù. Nhân vật Tôi/ nữ nhà văn Szabo Magda và Szeredas Emerenc, hai con người đó là hai thế giới khác biệt. Không phải sự khác biệt về giai cấp, mà là sự khác biệt trong cái nhìn về thế giới, trong cách định vị sự tồn tại và trong cách đánh giá các giá trị. Hai khác biệt ấy luôn va chạm với nhau, và bà già quét dọn - người mà Szabo Magda kiên trì khẳng định là “kẻ phản trí thức” và “ghê tởm chữ nghĩa” - thì cũng luôn khiến cho nữ nhà văn, cả người đọc nữa, bất ngờ vì những nhận xét của mình, những nhận xét lóe lên thứ ánh sáng ranh mãnh quái đản của trí tuệ dân gian, chứ không phải thứ ánh sáng thâm trầm tỏa ra từ sự đằm mình trong sách vở. Ví như khi bà nói về tôn giáo: “Bà bảo bà chẳng cần đến cha cố lẫn giáo hội, cũng không đóng góp, bà đã nhìn thấy việc làm của Chúa trong chiến tranh. Bà chẳng trách cứ gì ông thợ mộc và con trai ông ta, họ chỉ là những người thợ, chỉ có thằng bé đã bị đám làm chính trị lừa dối, và khi nó trở thành cái gai trong mắt các thủ lĩnh thì họ buộc nó dính vào một chuyện gì đó để có cớ giết nó” (tr 32).

Hay khi bà phản đối nghệ thuật điện ảnh trước nữ nhà văn: “Nếu các người đúng là những nghệ sĩ, thì tất cả phải là thật, cả vũ điệu của rừng, vì bằng lời nói các người phải sai khiến được các lùm cây, chứ không phải nhờ quạt gió hay cái của khỉ gì đó, nhưng các người chẳng biết gì hết, cả bà, cả đám người kia, tất cả là một lũ hề, còn tồi tệ hơn thế, các người còn tồi tệ hơn cả kẻ bịp bợm” (tr 149).

Sự dị thường của Emerenc - trong suy nghĩ và cả trong cách sống - có căn nguyên của nó.

Szabo Magda, bằng một lối kể chuyện nhẩn nha, đan cài rất khéo giữa hiện tại và quá khứ, giữa lời của người kể chuyện và lời của nhân vật, đã tìm ra căn nguyên ấy. Đó chính là tổng số những nỗi thống khổ, những mất mát, những trải nghiệm đau đớn khủng khiếp của Emerenc trong quá khứ, kể từ khi bà còn nhỏ cho đến khi bà phải sống dưới sự chiếm đóng của Đức quốc xã, rồi sự kiểm soát của người Nga sau đó. Cánh cửa đã hé mở. Và người ta có cơ hội được thấy ở đó không chỉ là số phận của một con người, mà còn là, thấp thoáng, cả những trang sử bi thương của một đất nước Hungary nhỏ bé phải sống trong sự kiềm kẹp của những quốc gia ông lớn.

Cánh cửa thực sự mở, nói chính xác là nó đổ sập xuống, ấy là khi Emerenc bị ốm. Bà đã giam mình sau cánh cửa suốt nhiều ngày, không cho ai vào thăm hỏi, và nữ nhà văn Szabo Magda buộc phải nhờ người phá cửa để đưa bà già ương ngạnh đi bệnh viện. Emerenc là một đồng nhất với cánh cửa, nó đổ sập xuống cũng có nghĩa với việc bà đổ sập xuống. Vì nhát chém tàn bạo của thời gian. Nhưng chủ yếu là vì những bí mật mà bà luôn giấu kín đã bị phơi ra trước con mắt thiên hạ, niềm kiêu hãnh của bà bị đốn hạ, cho dẫu là bị đốn hạ bởi lòng tốt.

Những trang cuối của cuốn sách, có thể nói, là những trang tuyệt bút về cái phức cảm trộn lẫn yêu thương và sùng kính, tiếc nuối và hối hận giày vò, của Szabo Magda với Emerenc trong những ngày cuối cùng của đời bà. Nỗi đau ấy đã ám ảnh nữ nhà văn trong suốt nhiều năm. Nó chỉ được giải tỏa phần nào qua hành động viết, viết về Emerenc, như một sự sám hối mà Szabo Magda đã nói ngay ở phần đầu cuốn sách: “Đến lúc này tôi đã sống can đảm, hy vọng tôi sẽ chết như thế, can đảm và không dối trá, nhưng điều kiện để tôi làm được như vậy là tôi phải nói ra: tôi đã giết chết Emerenc. Việc tôi không muốn giết, mà muốn cứu bà, chẳng thay đổi được điều gì!” (tr 9). Quả thật là sự sám hối này chẳng thay đổi được điều gì, ngoại trừ việc là từ đó mà văn chương thế giới đã có “Cánh cửa”, và người đọc được biết đến một tiêu bản sống, một mối quan hệ sống nhân bản đến khác thường.