Cải cách phải tạo được đột phá về thể chế
Mới đây, tại phiên họp thẩm tra sơ bộ dự luật do Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tổ chức, ông Phan Tuấn Hùng, Vụ trưởng Pháp chế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết, những nội dung sửa đổi tại 10 Luật đều có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh nhằm thể chế hóa các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh. Cụ thể, Dự án Luật gồm hai nhóm nội dung chính: Nhóm thứ nhất là nội dung cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh. Dự án Luật và dự thảo các văn bản quy định chi tiết cắt giảm 38 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 13 thủ tục hành chính và cắt giảm 40 điều kiện kinh doanh; tương đương cắt giảm được 904 ngày và tiết kiệm được 189,9 tỷ đồng chi phí tuân thủ thủ tục hành chính so năm 2024. Nhóm thứ hai là nội dung phân quyền thực hiện thủ tục hành chính, dự án Luật phân quyền 21 thủ tục hành chính của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố thực hiện.
Theo đánh giá của Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Thị Mai Phương, dự thảo luật chủ yếu luật hóa các nội dung từ Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP của Chính phủ. Do đây là nghị quyết mới có hiệu lực nên cần tiếp tục rà soát làm rõ phương thức hậu kiểm với từng nhóm thủ tục hành chính đã được cắt giảm nhằm bảo đảm nâng cao năng lực thực thi của địa phương cũng như tránh việc phát sinh các thủ tục mới.
Dẫn chiếu theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Trần Văn Khải chỉ ra, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không chỉ là có cắt giảm thủ tục hay không, mà là việc cắt giảm đó có đi đôi với thiết kế quản trị số, dữ liệu số và hậu kiểm số hay không. Bởi nếu chỉ giảm “tiền kiểm” mà không thiết kế được cơ chế “hậu kiểm số”, không liên thông dữ liệu và không lượng hóa trách nhiệm giải trình, việc cải cách sẽ chưa đạt được chuẩn mực về đột phá về thể chế.
Được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn, Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 Luật, bao gồm: Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật; Luật Chăn nuôi; Luật Đê điều; Luật Địa chất và Khoáng sản; Luật Khí tượng thủy văn; Luật Tài nguyên nước; Luật Thú y; Luật Thủy lợi; Luật Thủy sản; Luật Trồng trọt.
Thể chế hóa phương thức quản trị mới
Đóng góp ý kiến vào dự thảo Luật, Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Ngọc Sơn bày tỏ sự quan ngại trước đề xuất bãi bỏ các quy định về điều kiện trình độ chuyên môn và trang thiết bị đối với dịch vụ bảo vệ thực vật. Cụ thể, ông Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị Chính phủ làm rõ việc bãi bỏ này đã được đánh giá tác động đối với các yêu cầu kiểm soát dư lượng từ các thị trường xuất khẩu nông sản trọng điểm hay chưa?
Nhấn mạnh lưu ý cần rà soát tính thống nhất giữa các luật để thực hiện việc phân cấp nhưng phải bảo đảm đồng bộ, thống nhất, ông Nguyễn Ngọc Sơn nhận định, đang tồn tại sự bất cập khi thẩm quyền cấp phép khai thác khoáng sản nhóm 1 thuộc về Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhưng việc phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường lại dự kiến phân cấp cho cấp tỉnh, thành phố. Sự thiếu đồng bộ này về thẩm quyền và quy trình có thể gây khó khăn cho thực thi.
Trước khối lượng công việc rất lớn khi “1 luật sửa đổi cùng lúc 10 luật”, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên khẳng định, việc luật hóa các quy định không chỉ bảo đảm tính ổn định lâu dài, tránh tạo ra “khoảng trống” pháp lý mà còn nhằm thể chế hóa phương thức quản trị mới theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương và Bộ Chính trị. Cơ quan thẩm tra cần quán triệt nguyên tắc “Rút ngắn về mặt thời gian nhưng tuyệt đối không cắt bớt quy trình, thủ tục và không hạ thấp yêu cầu chất lượng”.
Đặc biệt, trước yêu cầu thay đổi tư duy quản trị, chuyển mạnh mẽ từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ quản lý bằng cấp phép sang quản lý bằng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và giám sát thực thi, Phó Chủ tịch Nguyễn Hồng Diên nhấn mạnh, việc phân cấp, phân quyền cho địa phương phải đi đôi với phân bổ nguồn lực hợp lý và cần rà soát kỹ để bảo đảm không phát sinh “giấy phép con”. Tiếp đó, cần ứng dụng dữ liệu số, đẩy mạnh sử dụng dữ liệu chuyên ngành để giảm hồ sơ giấy tờ, tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo mà vẫn bảo đảm yêu cầu đặt ra trong công tác quản lý.