Nước mắt... đàn ông
Lường Thị Dắng là người xã Trung Thành - huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình. Từng có một gia đình, song chồng Dắng lại là người "hâm, dở", chỉ cần một chén rượu nhỏ vào bụng là: "Nó cứ đánh, chửi rồi đuổi mẹ con đi, rượu làm nó thành con thú hoang rồi, nhà đã chẳng ra nhà mà nó cũng không cho ở, nửa đêm mấy mẹ con dọn cái chái nhà chỗ mấy con chó nằm ổ rồi ôm nhau ngủ cũng không yên" - Dắng kể. Sau nhiều lần bị chồng hành hạ, đánh đập, chửi rủa, không chịu nổi tủi nhục, mẹ con Dắng đã xin phép xã ly dị chồng. Từ ngày ấy, mẹ con Dắng phải ôm nhau về nhà ngoại. Hết mùa trăng này qua mùa trăng khác, Dắng cắt rừng đi hai chục cây số sang các xã lân cận để kiếm tiền lo cuộc sống hàng ngày. "Nhờ ơn "mẹ" rừng thương, mùa măng hái măng, mùa cỏ chít hái cỏ chít,... mình cũng bòn được đồng quà, tấm bánh cho con"- Dắng chia sẻ.
Bàn chân trần đã đạp nhẵn các vạt rừng, không ngờ một ngày lại ngập ngừng trước mái nhà xiêu vẹo, ọp ẹp, rách nát ở bản Than (Tân Pheo) của bố con Lường Văn Săng. Khuôn mặt người đàn bà từng gánh chịu nhiều nhọc nhằn của số phận ánh lên nét hồng của niềm hạnh phúc, khi kể về "duyên vợ chồng" với anh Săng. Lần ấy, vừa vượt qua được dốc Than, Dắng gá cái gùi vào thân cây, từ từ hạ xuống. Dắng tựa lưng vào gùi măng, bần thần nhìn những tia nắng nhấp nháy dưới vũng nước. "Tong... tong...", mặt nước sẽ sàng những vòng sóng. Dắng giật mình tưởng mưa, nhưng thấy ánh mặt trời vẫn xiên qua tán lá. Nhìn xuống vũng nước, Dắng mới để ý đến người đàn ông gầy gò, ngồi im như tượng trên cầu tre. Hóa ra tiếng: "tong... tong..." là nước từ đôi mắt sâu hoắm của người đàn ông nhỏ xuống. Từ đó, Dắng càng chú ý hơn đến ngôi nhà và việc làm của người đàn ông đặc biệt ấy. Sáng cũng như chiều, một mình Săng lầm lũi xách nước, gò lưng bổ những nhát cuốc xuống mảnh vườn cằn cỗi, tay gạt lớp sỏi ruồi vàng ệch, phủi đất bám ở những củ khoai lang bé như đầu ngón chân cái và tắm rửa cho hai đứa trẻ ngây ngô bên chái nhà...
"Nó còn khổ hơn mình" "
Hóa ra, nó còn khổ hơn mình" - Dắng ngậm ngùi sau khi quan sát và tìm hiểu về Săng. Là cựu binh, đi bộ đội về rồi lấy vợ, đứa con đầu của Lường Văn Săng sinh ra trong niềm yêu thương của bố mẹ với cái tên Lường Văn Hú năm 1982. Đã bao năm chiến đấu can trường, không có hiểm nguy nào khuất phục được ý chí, vậy mà giữa hòa bình, nhìn con mình tật nguyền, đỏ hỏn trên tay bà đỡ, Săng chết lặng. Vượt qua nỗi đau, vợ chồng Săng gửi gắm hy vọng vào đứa trẻ thứ hai. Lường Văn Hoàn chào đời năm 1987, bao nhiêu hy vọng, bao nhiêu khao khát lại sụp xuống, Hoàn không chỉ dị tật bẩm sinh mà còn không biết khóc, chẳng biết cười. Lại nén nỗi đau, lại tiếp tục dồn hết hy vọng vào đứa con thứ ba. Đã đi đến tận cùng của tuyệt vọng, những tưởng hai vợ chồng sẽ được bù đắp, nhưng rồi từ lúc chào đời, Lường Thị Hoan đã mang tất cả những dị tật của hai người anh Hú và Hoàn. Vợ chồng Săng không thể khóc được nữa. Dân trong bản rỉ tai nhau: "Nhà thằng Săng bị ma ám."
Ba đứa con đỏ, đứa đặt đâu ngồi đấy, đứa không biết nói, đứa chẳng biết cười. Hai vợ chồng Săng thay nhau cày xới những khoanh ruộng cằn cỗi; đói nghèo triền miên; những điều vợ chồng chia sẻ với nhau dần dần chỉ còn bằng hành động, bằng việc cùng nhau chôn chặt nỗi đau để chăm nom ba đứa con tàn tật. Thằng Hoàn lên bảy tuổi thì bỏ vợ chồng Săng mà đi. Vợ Săng buồn và nghĩ ngợi nhiều nên mắc bệnh nặng rồi cũng đi theo con trai. Hơn hai mươi năm trời, một mình Săng chăm lo hai đứa con không biết tự sinh hoạt, vệ sinh cá nhân, không thể tự xúc cơm,... chỉ biết bò từ trong nhà ra ngoài chái, ngồi nhìn xuống đường từ sáng sớm đến chiều tối.
Hơi ấm tình người
Việc Dắng lấy Săng vào một ngày nắng ấm năm 2006, làm cả bản Than, cả xã Tân Pheo ai nấy đều "mắt tròn mắt dẹt". Người Tân Pheo ai lại không biết nhà anh Săng gầy khô đét như que củi, gia sản vẻn vẹn chỉ có hai đứa con tật nguyền. Ngay cả nếp nhà chênh vênh trên sườn đồi Cỏ De cũng do "Quỹ vì người nghèo" trao tặng, cùng với sự góp công, góp sức của các ban ngành, của bà con trong thôn ngoài bản để dựng lên được.
"Chỉ vì lần ấy, nhìn thấy nước mắt từ đôi mắt chỉ còn hai hốc mà "cái thương" nó cứ vương vấn. Nên quyết định về ở cùng. Không có cưới xin, không một mâm cơm gọi là để báo cáo gia tiên và con "ma" trông nhà"- Dắng chia sẻ. Con lớn của Dắng đã lấy chồng, Dắng mang đứa thứ hai lên tám tuổi về ở với bố con Săng. Nhà Săng quá nghèo. Sáng thức dậy nấu cơm, khi Dắng đeo chiếc gùi đi măng cũng là lúc Săng đi lấy nước đợi mặt trời lên cao rồi mới vào rừng lấy củi dự trữ cho mùa đông giá rét.
Chúng tôi ngồi chờ đến lúc mặt trời đã qua ngọn núi mới thấy Dắng đi chợ về. Thấy mẹ Dắng, Hú tỏ vẻ giận dỗi, hỏi gì cũng quay mặt đi, nhất quyết không nhìn. Nụ cười tươi trên khuôn mặt khắc khổ của người đàn bà chịu thương, chịu khó, chị cho biết: Hôm nay mình về muộn hơn thường ngày. Cái gùi măng nặng được mười chín cân, bán được năm mươi tư nghìn. Mình trả nợ bốn nghìn rượu, ba nghìn bó rau muống, trả nợ tiền mua cá mắm, mua muối của mấy ngày mưa,... lại còn mua thêm mười hai nghìn cá khô để dành cho những ngày sau nữa...".
Nhìn người đàn bà lúi húi, tất bật bên bếp lửa hồng lo bữa cơm đạm bạc, chúng tôi lại nhớ lời ông Bàn Văn Sơn, Chủ tịch xã Tân Pheo: "Cũng may là có bà ấy tốt bụng về ở, san sẻ chăm nom. Thật may mắn cho ông Săng gặp được tình yêu thương của bà Dắng, chứ không thì chẳng biết giờ này mấy bố con ông ấy sẽ ra sao...".