Cái nồi ba mươi

Ông bà nội tôi có một cái nồi ba mươi (nấu đủ ba mươi người ăn) bằng đồng điếu, đồng nguyên chất, rất nặng, gõ một tiếng thì âm thanh vọng mãi chưa dứt, không rõ sắm từ bao giờ, khi lớn lên tôi đã thấy có rồi. Cái nồi ấy ngày thường thì đựng lúa, chỉ khi Tết đến mới đem cọ rửa sạch sẽ để con cháu sắp xếp lịch nấu bánh chưng.

Năm nào các chú tôi cũng chủ động ra ngoài làng lấy nồi về phân công nhau nấu bánh trước, nhân tiện mang cho bà ít củi gộc, củi cành. Bà nội tôi nấu sau, nấu chung với mẹ  tôi, thường là vào sớm 29 Tết, nhưng lúc đó trên bàn thờ gia tiên đã xếp đầy những cặp bánh vuông vức mà con cháu đem biếu rồi. Vì là của hiếm lúc ấy nên cái nồi ba mươi này được bà nội tôi giữ gìn cẩn thận lắm, cô chú nào luộc bánh bà bắt phải lót đáy nồi bằng một lớp lá dong hoặc vỉ tre phòng cháy nồi, luộc xong, bà yêu cầu phải lấy trấu trộn với tro bếp đánh nồi cho thật bóng đỏ mầu đồng mới yên. Ai sơ ý làm cháy nồi thì phải biết điều, có nhời với bà. Những lúc như thế tôi thấy bà luôn miệng ca cẩm cứ như thể chính mình bị đau vậy. Không được đặt nồi xuống đất mà phải kê gạch. Năm nào cũng phải rửa nồi vài lần, dù chẳng nấu nướng gì. Mỗi nồi bánh chứa được mười cặp bánh chưng  to ước nửa cân gạo nếp một chiếc, không kể nhân hành mỡ dày hàng đốt ngón tay cùng vài chiếc bánh tẻ hoặc một cái giò lụa hay giò hoa. Hai chiếc bánh chưng thành một cặp, được ràng lại với nhau bằng những sợi dang dài chắp nối trông vuông vắn dễ coi. Nếp là nếp cái hoa vàng, khi gặt về bà nội tôi bắt phải  đập riêng một chỗ sạch sẽ trong góc nhà, không có sỏi sạn, càng không được để lẫn tẻ. Phải giã sao cho hạt gạo nếp kỳ trắng xanh mới đạt yêu cầu. Ðỗ làm nhân bánh là đỗ xanh đã luộc chín và giã nhuyễn nhừ, nắm lại thành từng nắm nhỏ. Lá dong thì phải rửa thật sạch, rồi luộc chín, bó lại thành từng bó dựng ở góc sập, đợi ngày gói.

Không gì thích thú bằng được ông nội gói cho mỗi đứa một chiếc bánh chưng con, đứa thích bánh vuông thì ông gói vuông, đứa thích bánh tày, ông cũng chiều. Những chiếc bánh chưng con ông gói sao mà hón, tức là xinh xắn, cầm vừa bàn tay nhỏ nhắn. Tôi thường thức rất khuya ngồi canh nồi bánh với mẹ. Lửa sắp tàn thì cho thêm củi gộc, nước sắp cạn thì chế thêm nước lã. Mẹ tôi nhắc phải giữ sao cho ngọn lửa luôn cháy đều, nước lã pha vừa đủ, có vậy bánh mới không bị hấy. Cơn buồn ngủ ập đến, tôi lăn ra chiếc chiếu manh trải gần bếp nhưng tôi không thể nhắm mắt được lâu, bởi tiếng nước sôi lục bục, tiếng lửa nổ lép bép, tiếng gáo mẹ tôi múc nước từ chum đổ vào nồi, tất cả tạo thành một mớ âm thanh hỗn độn, vô cùng hấp dẫn. Giây phút vớt bánh mới thật lý thú. Nước trong nồi đã cạn tới đáy. Cái vung, đôi khi là một cái mẹt khổ lớn, hoặc là một cái mâm gỗ sơn hồng vừa được nhấc ra thì một luồng hơi nước nóng ngùn ngụt bốc lên đặc trắng như sương mù, phải khó khăn lắm mới nhìn thấy những chiếc bánh chưng lá đã ngả mầu xanh nhạt. Bất chấp sức nóng, mẹ tôi cứ quờ cả hai tay vào biển hơi nước ấy để tìm đầu lạt buộc bánh mà vớt ra từng cặp xếp lần lượt vào một cái cánh cửa cho kỳ hết bánh trong nồi và chồng lên một cái cánh cửa nữa (hoặc một tấm ván), rồi lấy gạch, có thể là cái cối đá chèn lên, ép bánh qua vài tiếng đồng hồ cốt sao cho bánh róc nước và thật rền. Cái bếp vốn đỏ lửa là thế bỗng tàn lụi rất mau, mấy tia lửa nổ lép bép, chỉ còn lại ba ông đầu rau đen nhẻm bỏng rẫy. Cạnh đó là cái nồi đất hầm chân giò lợn đã nhuyễn nhừ.

Khi mọi việc tạm xong, thì có tiếng chuông xe đạp reo leng keng ngoài cổng mẫn.

- Thầy về! Thầy đã về! - Tiếng tôi reo to hơn.

Anh em chúng tôi chạy ùa ra cổng đón cha. Dáng vẻ mệt mỏi của cha tôi sau một chặng đường dài đạp xe tự dưng bay biến khi ông nhìn thấy những cặp bánh chưng quen thuộc bốc hơi xếp trên mặt cánh cửa.

- Sao bảo chờ tôi về mới gói? - Cha tôi cười hỏi. Chả là ông khéo gói bánh nhất nhà mà.

- Chờ thầy em thì các con nhịn Tết à? - Mẹ tôi cũng vui vẻ đáp lại.

- Ông nội kêu đau lưng vì phải ngồi gói nhiều bánh quá, bố ạ.- Tôi ti toe mách.

- Sắp giao thừa rồi, mời ông dậy đi. Tôi kịp mua được hương vòng cho ông đây rồi.- Cha tôi vừa nhắc thì có tiếng con gà trống cồ nhốt trong bu vỗ cánh gáy một hơi rõ dài, khiến đêm ba mươi như tan loãng ra.

Chẳng hiểu có phải là thứ hương vòng bây giờ không, chỉ biết đó là loại hương thơm nền nã, ông nội và cả cha tôi nữa vốn ưa thắp trong mấy ngày Tết cổ truyền, có thể cháy âm ỉ suốt đêm, làm cho không gian trong khuôn viên nhà tôi thấm đẫm chất văn hóa tâm linh. Tôi nghe giọng cha phấn chấn hẳn lên, đơn giản vì ông đã kịp về ăn Tết với song thân và với vợ con ngay dưới ngôi nhà chan chứa những kỷ niệm của mình.

Tôi phấp phỏng trông trời mau sáng, tay vân vi cái dây xoắn bằng một loại giấy dai mầu trắng đục gọi là cái bùa (con dấu) gắn ở khuy áo để đuổi tà ma. Chợt nghĩ đến chuyện ông Lâm Kiểm, trưởng họ, dùng dao sắc rạch đầu lưỡi cho máu chảy xuống con dấu lấy thiêng mà tôi sợ. Trời lất phất mưa phùn. Không khí giá lạnh hơn. Giờ này chẳng có ai ra đường. Nhà nào cũng lo chuẩn bị cỗ bàn cúng gia tiên. Còn lời ông nội thì cứ thủ thỉ đâu đó: 'Năm mới, các cháu phải ngoan hơn nhé, không thì dông cả năm đấy!'.