Bông xuyến chi bất tử

Hiếm có người phụ nữ nào lại chung tình như chị. Tình yêu nảy mầm trong lửa đạn, rồi vĩnh viễn bị cắt chia bởi sự nghiệt ngã của chiến tranh. Hơn 40 năm qua, chị một mình lặn lội khắp các chiến trường xưa để tìm hài cốt người yêu. Lặng lẽ sống, và nhận về mình phần nước mắt, với chị, cuộc đời dường như vẫn thật nhiều ý nghĩa…

Chị Huệ lặng lẽ sống cùng với ký ức về một tình yêu đẹp.
Chị Huệ lặng lẽ sống cùng với ký ức về một tình yêu đẹp.

Sắt son lời hẹn

“Người ơi, chứ một lời thề không duyên thì nợ/ Mà hai lời thề không vợ thì chồng…”. Câu hát dân ca cất lên từ con thuyền nan đang lững lờ trôi trên sông Lam chở đầy nắng thu, khiến tôi không khỏi nao lòng nghĩ về chị - người con gái dù “đá nát vàng phai” vẫn giữ vẹn câu thề để dệt nên một thiên diễm tình lãng mạn nhưng thấm đầy nước mắt.

Trước mặt tôi, dưới hiên ngôi nhà nhỏ bé cũ kỹ là một người đàn bà tóc đã nhuốm màu thời gian, nhưng khuôn mặt phúc hậu vẫn mang nét đẹp của một thời xuân sắc. Khi biết ý định chuyến viếng thăm đột ngột của tôi, khuôn mặt chị trầm buồn. Chị bảo: “Trước lúc ra trận chị và anh chia tay nơi bờ sông bạt ngàn xuyến chi, chị đã hái một chùm hoa gói vào chiếc khăn tay thêu hình đôi chim bồ câu tặng anh trước lúc lên đường. Anh viết thư về bảo, mỗi lần xong trận đánh anh lại giở những đóa hoa đã ép khô trong chiếc khăn tay ra tâm tình như có chị bên cạnh. Một lần bị thương nặng, anh cứ chỉ nơi túi áo. Khi đồng đội lấy ra thì đó là chiếc khăn tay và chùm hoa xuyến chi khô bị mảnh bom xuyên thủng, nhuốm máu. Vậy nên mỗi mùa hoa xuyến chi, chị lại gom những cánh hoa bày lên đĩa đặt trước bàn thờ anh”.


Trong khói nhang bảng lảng, chị kể cho tôi nghe về một thời hoa lửa.

Chị tên đầy đủ là Phùng Thị Huệ (sinh năm 1950) ở thôn Hội Tiến, xã Xuân Hội (Nghi Xuân, Hà Tĩnh). Năm 1968, khi vừa tròn 18 tuổi, chị đã tình nguyện gác bút nghiên, viết đơn xin lên đường đi đánh Mỹ. Ngày ấy chị được gia nhập Đoàn Thanh niên xung phong 557, C18N5 vượt Trường Sơn vào chiến trường Bình-Trị-Thiên chiến đấu. Trên chiến trường này, chị đã gặp anh - chiến sĩ Đặng Xuân Thọ ở cùng đơn vị. Hai trái tim đã hòa chung nhịp đập. Họ nắm tay nhau sắt son thề nguyện…

Bốn năm tham gia chiến đấu ở chiến trường ác liệt, chị Huệ bị thương và xuất ngũ trở về quê tham gia sản xuất. Còn anh Thọ đi học Trường trung học Hàng hải (Hải Phòng). Hơn một năm sau, mẹ và em trai anh Thọ tử nạn trong một trận bom Mỹ. Anh Thọ lại xung phong tái ngũ, tiếp tục lên đường vào chiến trường B chiến đấu. Ngày ra đi, bước lên xe anh chỉ kịp dặn chị: “Em ở nhà chờ anh trở về”. Chị trả lời: “Anh cứ an tâm lên đường, em ở nhà dù 5 năm, 10 năm, 20 năm hay cả cuộc đời em vẫn đợi”.

Những cánh thư đi, những cánh thư về, chị gửi anh chiếc gối thêu hai con bồ câu đậu trên cành đào xuân hé nụ, anh gửi chị chiếc lược làm bằng mảnh vỡ máy bay. Tình yêu của hai người ngày càng mặn nồng trong chờ đợi. Anh chị đều mong chờ ngày chiến thắng để trở về sống bên nhau. Nhưng anh Thọ vĩnh viễn không trở về. Anh đã nằm lại chiến trường trong một trận đánh vào căn cứ của địch.

Khi anh hy sinh, ở nhà chỉ còn lại người cha nên chị xin phép gia đình anh được làm con dâu để suốt đời chăm sóc cho cha già. Khi cha anh qua đời, chị mang các bát nhang của gia đình anh về ngôi nhà của mình bên dòng sông Lam thờ phụng. Dù chưa một lần được làm vợ anh nhưng chị tự coi mình là dâu con trong nhà. Hằng năm, cứ đến ngày giỗ của anh và mọi người trong gia đình anh, chị đều làm giỗ chu đáo.

Hỏi, tại sao chị không đi lấy chồng. Chị lắc đầu: “Không hiểu tại sao, tình yêu với anh trong chị vẫn còn nguyên vẹn như thuở ban đầu. Trải qua nhiều sóng gió nó vẫn không hề phai nhạt. Có nhiều người đàn ông muốn lấy chị làm vợ nhưng chị không thể”. Những kỷ vật của anh, của tình yêu thời đạn lửa như những lá thư, chiếc lược... được chị trân trọng lưu giữ như “kho báu” của riêng mình. Lúc buồn, chị lại đưa những bức thư, những kỷ vật ra tâm tình như có anh bên cạnh…

40 năm đi tìm… tình yêu

Anh Thọ hy sinh nhưng chưa tìm được hài cốt, vậy nên trong chị luôn đau đáu không yên. Hằng ngày chị làm lụng, chắt chiu từng đồng kiếm được để đi tìm hài cốt người yêu. Ý định đó bắt đầu từ năm 1976, nhưng chị không biết anh Thọ hy sinh ở chiến trường nào. Trong tờ giấy báo tử ghi vỏn vẹn mấy dòng, báo tin liệt sĩ: “Đặng Xuân Thọ hy sinh ngày 26-1-1973, tại mặt trận phía Nam...”. Không biết nơi cụ thể nhưng chị vẫn cứ đi đến các chiến trường xưa để tìm anh. Suốt mấy chục năm, bàn chân chị đã trải qua khắp các chiến trường từ Quảng Trị, Tây Nguyên, dọc bìa rừng Trường Sơn cho đến các nghĩa trang phía nam với hy vọng tìm thấy hài cốt anh. Không chỉ vậy, chị còn rất chăm đọc báo, xem ti-vi, nghe đài. Cứ đến mục “Nhắn tìm đồng đội” là chị lại mở sổ ghi chép. Một thông tin dù nhỏ nhất cũng không bỏ qua vì đó là hy vọng để chị thực hiện ý nguyện.

Năm nào cũng vậy, cứ sau ngày 27-7, chị lại khoác ba-lô đi tìm anh. Bà Đinh Thị An - đồng đội TNXP với chị Huệ ở Gio Mai, Gio Linh (Quảng Trị) rơm rớm nước mắt kể: “Có đến vài chục bận chị Huệ vào đây, rồi một mình băng rừng, lội suối để đi đến những bãi chiến trường năm xưa, toàn chốn rừng thiêng nước độc, dựng lán ngủ lại trong rừng để tìm hài cốt anh Thọ. Có lần chị ấy bị lạc rừng, kiệt sức nằm gục bên con suối, may có người địa phương phát hiện đưa đi cấp cứu kịp. Thương chị ấy quá, có lần tôi khuyên: Chị đừng đi tìm nữa, chiến trường miền nam chị đi suốt đời cũng không hết. Chắc anh Thọ cũng hiểu cho tấm lòng của chị, chị nên về lấy chồng đi chứ tuổi xuân sắp hết rồi. Cứ nói đến việc đó là chị lại khóc”.

Rồi bao công sức của chị Huệ cũng không uổng phí, khi đến ngày 22-8-2010, mộ anh Thọ được tìm thấy tại xã Hậu Mỹ, tỉnh Tiền Giang. Tìm được mộ, chị đưa anh về yên nghỉ tại Nghĩa trang liệt sĩ xã Xuân Mỹ, huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh). Chị tâm sự: “Trên đời này chẳng có ai như tôi, chuyện vợ đi tìm mộ chồng đã khó, chuyện người yêu đi tìm mộ người yêu suốt 40 năm qua có lẽ chẳng ai thấy bao giờ”.

Bây giờ, niềm vui hằng ngày của người phụ nữ sắt son, chung thủy ấy là hương khói cho phần mộ của người yêu, và lặng lẽ sống, chia sẻ buồn vui cùng những người bạn đồng ngũ thời TNXP. Với chị, dường như, thế cũng đã là trọn vẹn.