Kỳ 1: “Viên gạch nhỏ” đẫm mồ hôi và máu
“Ðã tuyên thệ hy sinh cho Tổ quốc!”
73 tuổi, nhưng ký ức về những ngày Tết Mậu Thân 1968 vẫn hằn in rõ đến từng chi tiết trong tâm trí người chiến sĩ biệt động Sài Gòn Phan Văn Hôn (ảnh nhỏ) (tức Bảy Hôn), người trực tiếp tham gia trận đánh vào Dinh Ðộc Lập tối ngày mồng 1 Tết.
Năm đó, chàng trai Phan Văn Hôn mới hơn 22 tuổi.
Ông kể: 28 Tết chúng tôi còn liên hoan ở An Tịnh - Trảng Bàng, sáng 29 xuất phát từ đó về Sài Gòn, 4 giờ chiều có mặt tại địa điểm 270 Võ Văn Tần - nhà ông Trần Văn Lai. Khi hội đủ quân số 15 người, chúng tôi được lệnh khui hầm vũ khí. Khi tận mắt nhìn thấy căn hầm đó, tôi không khỏi ngỡ ngàng. Trời đất, giữa Sài Gòn này mà có được cái hầm vũ khí quá lớn như vậy! 9 giờ đêm, đồng chí Tư Tăng (Nguyễn Văn Tăng) đến kiểm tra lần cuối công tác chuẩn bị, rồi lật sa bàn, chỉ rõ mục tiêu của đội 5 biệt động Sài Gòn: đánh thẳng vào Dinh Ðộc Lập.
- Ông còn nhớ cảm nhận của mình khi nghe mệnh lệnh đó?
- Chúng tôi có suy nghĩ chứ, vì lực lượng giữa ta và địch hoàn toàn không cân xứng, nhưng biệt động Sài Gòn vốn thường xuyên hoạt động theo phương châm: dùng nhỏ thắng to, dùng ít thắng lớn, vì có yếu tố bí mật, bất ngờ, táo bạo.
Sau đó, đồng chí Trần Hải Phụng, nguyên Tư lệnh biệt động Sài Gòn, đến gặp gỡ anh em, đồng chí nói: Giờ phút này là giờ phút lịch sử, Ðảng cần các đồng chí quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Tất cả chúng tôi đều xác định: Trận đánh sẽ vô cùng ác liệt, trong chiến đấu sẽ có hy sinh, và chúng tôi sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc!
Ðó là đêm rực lửa của Sài Gòn! 16 chiến sĩ đội 5 biệt động Sài Gòn đã thực hiện cuộc tiến công táo bạo vào Dinh Ðộc Lập. 7 người hy sinh ngay tại cửa mở. Riêng ông Trần Văn Lai quay về lấy thêm vũ khí, khi quay lại thì địch đã bao vây cả đội, không vào được nữa. Sau đó, ông phải rút vào hoạt động bí mật. 8 chiến sĩ còn lại phải rút lên ngôi nhà 56 Thủ Khoa Huân, rồi chuyển sang tòa nhà 108 Gia Long, cầm cự với địch hơn một ngày trời, tiêu diệt gần 100 tên địch, bắn cháy ba xe jeep. Một người hy sinh, bảy người sa vào tay giặc.
Ðịch đã định đem cả bảy chiến sĩ biệt động đánh Dinh Ðộc Lập ra xử bắn tại chợ Bến Thành, nhưng do sự trao đổi sinh mạng với những giặc lái Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc, nên bảy chiến sĩ bị kết án chung thân ở Côn Sơn. Khi Hiệp định Paris được ký kết, các thành viên đội 5 biệt động được đưa về các nhà tù ở Sài Gòn để trao trả vào năm 1974, riêng ông Bảy Hôn vượt ngục thành công ở nhà lao Hố Nai, Biên Hòa vào cuối năm 1973.
Những năm gần đây, ông Bảy Hôn đứng ra tổ chức ngày giỗ chung cho những đồng đội đã hy sinh năm ấy. Lễ đúng ngày mồng 1 Tết. Những chiến sĩ còn sống của đội 5 biệt động thành, dù tuổi cao, sức yếu, vẫn cố gắng tìm về, thắp cho đồng đội nén nhang tưởng niệm.
Trong căn nhà nhỏ nằm nép bên một con ngõ trên đường Nguyễn Hữu Cầu, chúng tôi tìm gặp bà Ðặng Thị Thiệp (Ðặng Thị Tuyết Mai), người vợ thứ của Anh hùng Lực lượng vũ trang Trần Văn Lai (tức Năm Lai). Những người hàng xóm yêu quý bà như một bà quả phụ đẹp và tốt bụng, không ai biết đó chính là người vợ của thầu khoán Mai Hồng Quế - một vỏ bọc rất vững chắc do ông Lai tạo nên để có thể xây dựng cả một hệ thống hầm bí mật ngay trong lòng Sài Gòn từ những năm 1960. Căn hầm vũ khí bí mật tại số nhà 270 Võ Văn Tần - đã được công nhận là Di tích quốc gia từ năm 1989, chỉ là một trong số gần 20 căn hầm, hòm thư bí mật mà vợ chồng ông Lai đã dày công xây dựng. Ðiều đặc biệt là ngay cả khi thân phận ông Lai bị phát hiện sau sự kiện Tết Mậu Thân, thì các căn hầm bí mật vẫn không bị lộ. Cùng với chồng, bà Thiệp đã nhiều lần trực tiếp chuyển tài liệu, vũ khí từ vùng ven vào thành, hay liên lạc với một số cơ sở bí mật nội đô, trong khi, bà không hề thuộc quân số của biệt động Sài Gòn. Chịu đủ mọi hiểm nguy, cơ cực vì phải đóng vai vợ bé ông Lai, lo che chắn khi chồng bị phát hiện, một mình nuôi sáu đứa con khi chồng phải lẩn trốn, người phụ nữ ấy chia sẻ với tôi rằng: Chưa bao giờ nghĩ mình cực, chỉ nghĩ rằng, mình theo cách mạng là điều hiển nhiên, bởi đã sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng, cha tập kết, mẹ bị tù đày, gắn bó với ông Lai cũng vì cảm mến đức độ và nghĩa khí. Sống trong lòng địch, đối diện với quân thù, bà và những người con đã tập quen với hiểm nguy, cho đến tận ngày toàn thắng.
Riêng trong đợt tiến công Tết Mậu Thân, phần lớn chiến sĩ biệt động Sài Gòn đã hy sinh anh dũng, nhiều người trong số họ chưa xác định được danh tính, và tất cả đều không xác định được nơi chôn cất.
Ký ức máu và hoa
Với thương binh Phan Công Ðủ, người chiến sĩ biệt động thành Hội An, chiến tranh mãi là một ký ức chói sáng dẫu đầy mất mát, đau thương. Ông kể, tham gia Ðội biệt động thành (BÐT) TP Hội An ngày 1-5-1965, lúc đó tôi 16 tuổi. Tôi và nhiều BÐT khác là Ðinh Văn Lời, Nguyễn Khương, Bùi Sơn Thanh, Tạ Ðào, Nguyễn Vui, Ðinh Quang Minh, Nguyễn Hoài Bảo, Nguyễn Kìa,... hoạt động tại Trại mộc ông Một (bây giờ là nhà số 28 đường Lê Lợi, TP Hội An). Là BÐT, ở ngay trong lòng địch, hằng ngày đối diện với địch, nhưng chúng tôi đã nguyện thề một lòng theo Ðảng, theo Cách mạng. Tôi và nhiều anh em khác, ban ngày là những người thợ mộc, thợ cưa, cu ly, khuân vác, ở đợ,... nhưng ban đêm bí mật thực hiện nhiệm vụ rải truyền đơn, khẩu hiệu tuyên truyền chống Mỹ - ngụy. Chúng tôi hoạt động như một lực lượng vũ trang trong nội đô để bí mật đánh vào các cơ quan đầu não của địch gây tiếng vang, tiêu hao sinh lực địch, diệt bọn ác ôn có nợ máu với cách mạng.
Như đã tuyên thệ trước ảnh Bác Hồ, cờ Tổ quốc khi được kết nạp vào Ðội BÐT Hội An: “Tuyệt đối trung thành với Tổ chức Cách mạng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do cho Tổ quốc và dân tộc; Tuyệt đối giữ bí mật cơ sở cách mạng trong Thành phố, trường hợp bị địch bắt đánh đập tra tấn không khai báo tổ chức Cách mạng, không phản bội đồng chí, đồng đội của mình; Chấp hành sự điều động và phân công của Tổ chức Cách mạng”, đã trải qua những tháng năm nằm trong lòng địch, từng bị địch bắt tù đày tra tấn dã man, người chiến sĩ biệt động Phan Công Ðủ vẫn thủy chung một lòng tin theo Ðảng, theo Cách mạng. Ông nói: Với anh em đội BÐT Hội An chúng tôi, đó là ký ức thanh xuân hào hùng đầy máu và hoa. Bây giờ ngồi soi lại ký ức, thấy mình may mắn hơn nhiều đồng đội đã hy sinh, chúng tôi phải sống tiếp, sống đẹp như thời hoa lửa ấy.
Khi tham gia cách mạng, Anh hùng LLVT Nguyễn Thị Tám mới là cô bé 14 tuổi rồi trở thành biệt động thành quận nhì Ðà Nẵng ở tuổi đẹp nhất của cuộc đời, bà cùng anh em đồng đội đã không ít lần vào sinh ra tử. Ít ai ngờ rằng người con gái mảnh mai xinh đẹp đó lại mang trong tim một tinh thần thép trước nòng súng kẻ thù. Bà kể, tham gia giao liên ở quê (huyện Ðiện Bàn, Quảng Nam - PV) từ 13, 14 tuổi, rồi được tin tưởng giao nhiều công việc quan trọng khi về thành phố hoạt động với vỏ bọc là người đi ở đợ bồng em. Tôi đã quen thuộc rất nhiều con đường, tuyến phố. Cũng bởi vậy mà khi về phố cùng với đồng đội đi rải truyền đơn, tôi đã lận tài liệu, truyền đơn trong người và cứ đi giữa lòng địch như bồng em đi chơi vậy. Quen đường, tôi đã vượt qua nhiều địa điểm kiểm soát gắt gao của địch để vận chuyển vũ khí về cất giấu ở nhà mẹ Nhu, mẹ Hiền, mẹ Khánh, mẹ Xã Xoài,… ở khu vực Thanh Khê. Tôi cũng được giao thêm nhiệm vụ đưa các chiến sĩ biệt động vào Ðà Nẵng.
“Ðã tuyên thệ hy sinh cho Tổ quốc!” Không chỉ một lần, mà hầu như trong tất cả các cuộc gặp gỡ với những chiến sĩ biệt động đã tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân - 1968, chúng tôi đều được nghe họ nhắc câu nói đó. Nhắc lại, để khẳng định rằng: Mọi chiến công mà họ đang kể lại cho hậu thế, là để những người sau không được quên quá khứ đau thương nhưng anh dũng, hào hùng, không được quên giá máu xương đã trả cho những ngày hòa bình tươi đẹp này. Ẩn sâu trong đó, chúng tôi đọc thấy niềm thương nhớ gửi về những đồng đội, phần nhiều đã trở thành mãi mãi vô danh. Những con người đã tận hiến cho lời thề quyết tử, ngày ấy.
(Còn nữa)
Những chiến công của họ (biệt động Sài Gòn - PV) đã âm thầm lát một viên gạch nhỏ đẫm mồ hôi và máu trên chặng đường đấu tranh giải phóng dân tộc, và lịch sử nhân loại có thêm một cụm danh từ trong bộ Từ điển bách khoa quân sự: Biệt động Sài Gòn! (PGS, TS HỒ SƠN ÐÀI).