Người đàn bà "cay nghiệt"
Ðã nhiều năm nay, bà Bùi Thị Ðông làm thuê mướn đủ mọi việc ở chợ Nhật Tân, từ gánh nước, dọn hàng, đến cọ rửa phản thịt. Tất cả những việc mà người ta cho là tầm thường nhất cũng chẳng thấy bà dè bỉu hay làm cho nó xong việc bao giờ. Bà còn có một hàng nước nằm cuối chợ. Trỏ vào lèo tèo cốc chén, vài ba gói thuốc lá, mấy chai nước lọc, bà Ðỗ Thị Minh, "đồng nghiệp" bà Ðông bảo: "Hàng nước bà Ðông "ết" đấy. Bà ấy suốt ngày lo đi tuyên truyền, rồi tới nhà tắm rửa, khâm liệm cho mấy người bị AIDS chứ lo buôn bán gì đâu. Thế nên chẳng ai dám uống nước. Chúng tôi bán hàng ngay cạnh, nhiều khi thấy bà vừa đi tắm rửa cho người nhiễm HIV về còn sợ, chả bao giờ dám ăn những thứ bà ấy cho".
Cách hàng nước vài mét, bà Ðông đang lúi húi thổi lửa, cái nồi to trên bếp tỏa mùi lá sả, hương nhu ngào ngạt. Giọng bà Ðông ồm ồm: "... Mày chờ tao một lát, tao đang nấu dở nồi nước". Tôi khựng lại trước cách xưng hô "mày - tao" của bà Ðông. Bà Minh phẩy tay: "Ðừng để ý cháu nhé, bà ấy toàn xưng hô vậy đấy, với ai cũng thế".
Bà Ðông bảo, chỉ tranh thủ trò chuyện cho đến khi nồi nước trên bếp nguội. Lúc đó bà đổ nước vào hai cái thùng nhựa, móc vào xe đạp và chở đến nhà những người có HIV tắm rửa cho họ. Những người có "H" giai đoạn cuối, cơ thể gầy đét, người lở loét bốc mùi rất khiếp. Người nhà nhìn họ mà kinh hãi, chẳng dám đến gần, kể cả những ông bố, bà mẹ thường ngày vẫn thương yêu và đau đớn vì con. Thế mà bà vẫn đến, tay không tắm rửa cho họ. Bà kể: "Nhiều đứa vừa mới trông thấy tao đã xua đuổi, tỏ vẻ bất cần. Nhưng tao chả biết thừa tâm lý chúng nó. Giai đoạn cuối, đứa nào chẳng đau đớn, dằn vặt. Lại còn thấy tủi thân vì gia đình xa lánh nữa chứ, nên khi tao hỏi han săn sóc, chúng nó ôm tao mà khóc nấc "giờ cháu mới thấy sợ chết, sợ lắm bác ạ".
Ðến giờ, bà vẫn không quên cậu thanh niên dính AIDS vì dùng chung bơm kim tiêm với đám bạn nghiện. "Gia đình sợ điều tiếng nên đẩy nó ra ngoài sống trong cái nhà trọ rách nát, mỗi tháng cho ít tiền đủ sống. Giờ nó lở loét khiếp lắm, chả mấy mà đi"... Bà Ðông im lặng một lát rồi chùng giọng: "Nhìn nó, tao lại nhớ đến mấy đứa con".
Khổ lắm, thương lắm!
Nghe bà Ðông xưng hô cùng với cách nói chuyện bốp chát của bà, quả thực ban đầu tôi chẳng thể nào "thích" bà được. Nhưng rồi khi nghe cái giọng ồm ồm không cảm xúc kể về gia đình, về những đứa con, tôi mới hiểu được là vì sao bà lại cay nghiệt với người và với đời như thế! Bà Ðông bảo: "Nếu mày gặp tao vài năm trước, đừng hòng tao kể chuyện gia đình, có khi tao còn chửi cho mà nghe ấy".
Bà từng là công nhân làm việc ở Bảo tàng Hồ Chí Minh, từng có một gia đình trọn vẹn. Hơn ba mươi năm trước nhà bà Ðông đã nghèo rồi, cậu con trai cả bỏ học ngang chừng, mang cái sức thanh niên đi kiếm tiền đỡ đần bố mẹ. Một đứa trẻ mới lớn phải xông vào những mảng tối của cuộc sống, thằng Dũng trẻ người non dạ của bà không đủ sức đề kháng trước những cám dỗ quá lớn, mắc nghiện lúc nào không hay. Khi vợ chồng bà biết con mình nghiện thì ma túy đã ngấm sâu vào đến tận xương tủy nó rồi. Bà tất tả chạy vạy để có tiền đưa con đi cai, nhưng cả ba lần vào rồi ra trại đều tái nghiện cả ba.
Vợ chồng bà chẳng làm gì được ngoài việc đau đớn nhìn đứa con thân tàn ma dại. Cuối những năm 1990, có một đứa con nghiện ngập là nỗi nhục nhã ê chề của cả gia đình. Vậy mà chỉ vài năm sau, bác sĩ phát hiện Dũng nhiễm HIV, đã vào giai đoạn cuối. Nỗi đau chưa vơi được chút nào thì một lần cậu con thứ hai phải vào viện vì đánh nhau, bà lại nhận được cái tin trời giáng, nó cũng đã có "H" trong người. Thằng út cũng nối gót theo anh sập bẫy "ả phù dung". Chồng bà không chịu được điều tiếng, sự khinh bỉ của xóm giềng đã dứt áo ra đi, dồn lại tất cả gánh nặng, đớn đau và tủi nhục lên vai bà. Tiền kiếm không đủ phục vụ ba đứa con dặt dẹo vì ma túy và bệnh thế kỷ, đã rất nhiều lần bà đi bán máu. Chưa kịp hồi lại người, bà đã lại tìm đến bệnh viện.
Bị thứ vi-rút tử thần hành hạ trong những năm tháng cuối đời, đứa con lớn mới ngấm thế nào là cô đơn, đâm sợ. Dũng đòi cưới vợ để được biết thế nào là mái ấm gia đình. Vợ Dũng là Thúy, vốn bạn nghiện cùng xóm và cùng có "H". Một năm sau Thúy phát bệnh, người ngợm lở lói, mưng mủ. Tự tay bà chăm sóc con dâu, từ ăn uống đến vệ sinh cá nhân. "Lúc nó chết cũng chỉ một tay tao khâm liệm. Hai năm sau, thằng Dũng cũng phát bệnh rồi chết", bà Ðông thở dài...
Cũng từ đận ấy, bà Ðông bắt đầu tìm đến những nhà có con cái đang bị AIDS giai đoạn cuối để tắm giặt cho họ. Bởi hơn ai hết, bà hiểu những người có "H" cô đơn ra sao và người thân họ đau đớn đến nhường nào. Ban đầu chỉ làm theo bản năng và kinh nghiệm, vì về cái bệnh thế kỷ này, bà cũng mơ hồ lắm. Phải đến năm 2005, khi Quỹ toàn cầu phòng, chống HIV/AIDS về phường Nhật Tân phổ biến kiến thức HIV, bà mới thật sự hiểu và đăng ký trở thành tình nguyện viên cho quỹ.
Vậy mà cũng đã mười năm bà "sống" với những người có "H". Ngoài việc trên phường, ngày ngày bà vẫn nhặt nhạnh củi lửa để nấu nước tắm cho họ. Bà bảo: "Chỉ mong trước lúc chết, chúng nó không thấy cô đơn, cô độc"...
* "Tôi đã từng tuyệt vọng khi biết mình sắp chết. Mỗi ngày lại thêm đau đớn nhận thấy da thịt, thân thể mình đang dần bị hủy hoại. Nhưng tuyệt vọng hơn là sự lạnh lùng của gia đình. Ðúng lúc đó thì bà đến. Người phụ nữ xa lạ nắm lấy tay tôi mà không cần mang găng. Bà tháo thùng nhựa đựng nước lá đã nấu sẵn từ chiếc xe đạp cà tàng xuống. Bà tắm gội, lau thân thể cho tôi. Bà an ủi, rồi kể chuyện thường ngày ở chợ, tự nhiên như thể đã quen biết từ lâu lắm rồi"... Ðó là những lời mà chị L.M.N, một bệnh nhân HIV giai đoạn cuối ở phường Nhật Tân, Tây Hồ (Hà Nội) nói về người phụ nữ đôn hậu Bùi Thị Ðông. Chị N chỉ là một trong rất nhiều người có "H" được bà Ðông "sưởi ấm" trước khi đi về cõi khác.