Thục địa là sinh địa được chế là nấu chín theo một phương pháp đặc biệt. Sinh địa trước đây hoàn toàn phải nhập từ Trung Quốc và Triều Tiên. Từ năm 1958, chúng ta đã di thực thành công cây sinh địa, hiện cây đang phát triển ở nhiều điạ phương.
Ngay từ những năm 30 của thế kỷ 20 Mẫn Binh Kỳ (Nhật Bản) đã công bố công trình giới thiệu sinh địa với tác dụng hạ đường huyết. Theo ông sinh địa có chứa chất Rehmanin là thành phần gây hạ đường huyết. Kế đó Kim Hạ Thực (Nhật Bản) bằng phương thức tiêm chất Rehmanni dưới da thỏ với liều 0,5g/1kg thể trọng, thấy rõ sau 30 phút lượng đường huyết giảm và sau bốn giờ thì hạ thấp nhất rồi đường huyết trở lại mức bình thường...
Theo y học phương Ðông sinh địa được coi là thần dược. Trong bài thuốc Tứ vật, đại bổ huyết: Thục địa là một trong bốn vị thuốc chính. Sinh địa trị huyết nhiệt nên sách cổ đều có chung nhận xét về tính dược như sau: 'Năng lực của sinh địa là bổ chân âm, lương huyết nhiệt, là vị thuốc bổ dưỡng, cường tráng, trị cảm, tiêu khát'. Qua kinh nghiệm nhiều thế hệ và với những công trình khoa học gần đây tác dụng ức chế đường huyết, lợi tiểu của sinh địa đã được dùng trong bệnh đường niệu (đái đường), suy nhược cơ thể.
Thục địa thì bổ tinh tủy, nuôi can thận, sáng tai mắt, đen râu tóc là thuốc tư dưỡng, hỗ trợ những người 'lao tâm, khổ tứ' lo nghĩ quá nhiều hại huyết, suy nhược sinh khí. Dùng sinh địa dưới dạng thuốc sắc hoặc phối hợp với một số vị thuốc khác. Ngày uống 9-15g.
Tiểu đường thuộc chứng tiêu khát của Y học phương Ðông. Các tiên y tiền bối có nhiều bài thuốc trị chứng này; tiêu biểu là: Lục vị gồm Sơn thù du, Trạch tả, Phục linh, Hoài sơn, Mẫu đơn bì, Sinh địa.Trong bài báo ngắn này xin giới thiệu bài thuốc: Hoàng Liên viên (theo sách cổ Thiên Kim Phương) trị chứng đường niệu (đái đường) gồm: Sinh địa 800g, Hoàng liên 600g.
Cách chế: Giã sinh địa vắt lấy nước sau tẩm với hoàng liên rồi phơi khô và cứ thế tẩm tiếp đến khi cạn nước sinh địa rồi tán nhỏ hoàng liên và thêm mật vo thành viên bằng hạt ngô sấy dùng. Mỗi lần uống 20 viên, ngày 2-3 lần, sẽ giảm các triệu chứng điển hình của tiêu khát (đái đường) là 'ba tăng, một giảm', đó là tăng tiểu, tăng ăn, tăng uống và giảm cân.