Phép thử đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp niêm yết

Lãi suất cho vay đang có xu hướng đi lên, xác lập một mặt bằng chi phí vốn mới cho nền kinh tế. Các doanh nghiệp niêm yết không chỉ đối mặt áp lực chi phí tài chính mà còn chịu sức ép từ việc định giá lại tài sản.

Cổ đông xem xét báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết. Ảnh: NAM ANH
Cổ đông xem xét báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết. Ảnh: NAM ANH

Từ đầu năm đến nay, mặt bằng lãi suất huy động đã tăng rõ rệt, từ khoảng 7%/năm lên tiệm cận 8%, thậm chí mức 10%/năm. Làn sóng cạnh tranh huy động vốn mới giữa các ngân hàng đang hình thành.

Doanh nghiệp gánh thêm 47.000 tỷ đồng

Mặt bằng lãi suất cho vay bình quân đã tiến sát, thậm chí vượt mốc 9%/năm tại nhiều ngân hàng như BacABank (9,83%), Sacombank (9,75%), OCB (9,6%), Techcombank (9,45%). Cùng với đó, ACB, LPBank, SHB hay SaigonBank cũng đã nâng lãi suất cho vay lên hơn 8%/năm. Xu hướng tăng đang diễn ra trên diện rộng. Điều này tạo thêm áp lực đối với khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn.

Tại hội thảo “Thị trường Bất động sản 2026 - Định vị tài sản chiến lược giữa biến động”, PGS, TS Trần Đình Thiên, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ nhận định, sau giai đoạn tăng trưởng tín dụng hơn 19% trong năm 2025, những hệ lụy của việc duy trì dư nợ cao đang dần bộc lộ khi lãi suất có xu hướng đảo chiều.

Theo tính toán của PGS, TS Trần Đình Thiên, chỉ cần lãi suất tăng thêm 1%, chi phí lãi vay của toàn nền kinh tế có thể tăng khoảng 184.000 tỷ đồng mỗi năm. Riêng lĩnh vực bất động sản phải gánh thêm khoảng 47.000 tỷ đồng. Chi phí vốn gia tăng trong bối cảnh thị trường chưa hồi phục khiến nhiều doanh nghiệp rơi vào trạng thái bị động.

Áp lực trả lãi vay lớn hơn trong khi thanh khoản yếu sẽ làm dòng tiền bị thu hẹp, đặc biệt với các doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính cao. Không ít chủ đầu tư phải giãn tiến độ dự án, tái cơ cấu nợ hoặc chuyển toàn bộ gánh nặng này sang người mua. Rủi ro tài chính cũng gia tăng khi nhiều doanh nghiệp đối mặt với áp lực đáo hạn trái phiếu và hạn chế tiếp cận nguồn vốn mới.

Đồng quan điểm, ông Huỳnh Anh Huy, Giám đốc phân tích ngành Công ty Chứng khoán Kafi nhận định, việc lãi suất tăng sẽ làm gia tăng chi phí tài chính và bào mòn lợi nhuận doanh nghiệp. Tuy nhiên, mức độ tác động không đồng đều.

Với các doanh nghiệp có nợ ròng lớn, chi phí tài chính sẽ tăng đáng kể khi lãi suất tăng thêm 1%. Đơn cử như chi phí lãi vay của Vingroup (mã chứng khoán: VIC) có thể tăng thêm khoảng 2.500 tỷ đồng nếu lãi suất tăng 1%. Tương tự, Vinhomes (VHM) có thể phát sinh thêm khoảng 941 tỷ đồng.

Cùng với đó, các yếu tố vĩ mô như giá xăng dầu tăng, áp lực lạm phát và yêu cầu duy trì chênh lệch lãi suất VND - USD để ổn định tỷ giá đang khiến mặt bằng lãi suất khó duy trì ở mức thấp.

Trong báo cáo cập nhật kinh tế vĩ mô, Công ty Chứng khoán Ngân hàng Vietcombank (VCBS) dự báo lãi suất huy động có thể tiếp tục đi lên do áp lực cân đối nguồn vốn trong hệ thống ngân hàng. Nguyên nhân chủ yếu đến từ tăng trưởng tín dụng ở mức cao, trong khi nhu cầu giải ngân đầu tư công được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trong năm 2026. Áp lực này được cho là rõ nét hơn tại nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ, vốn phụ thuộc lớn vào nguồn tiền gửi khách hàng.

Công cụ cần thiết để định vị lại cuộc chơi

Việc tăng lãi suất trong bất kỳ tình huống nào đều không có lợi cho người dân cũng như doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong điều hành vĩ mô, đây lại là công cụ cần thiết để giữ ổn định nền kinh tế.

Thứ nhất, khi tiền rẻ và dễ vay, nhu cầu tiêu dùng và đầu tư có thể tăng quá nhanh, đẩy giá hàng hóa lên cao và gây áp lực lạm phát. Thứ hai, trong bối cảnh các nền kinh tế lớn, đặc biệt là Mỹ, duy trì lãi suất cao, đồng USD có xu hướng mạnh lên. Nếu Việt Nam không điều chỉnh lãi suất tương ứng, dòng vốn có thể chảy ra ngoài, gây áp lực lên tỷ giá và làm VND mất giá.

Khi đồng nội tệ yếu đi, chi phí nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu hay nguyên liệu sản xuất sẽ tăng, từ đó tiếp tục đẩy lạm phát lên cao. Nói cách khác, việc tăng lãi suất là cách để kiểm soát dòng tiền trong nền kinh tế, tránh những rủi ro lớn hơn trong dài hạn.

TS Cấn Văn Lực cho rằng, việc tăng lãi suất sẽ định hướng dòng vốn vào khu vực sản xuất thực. Thực tế, giai đoạn lãi suất thấp kéo dài thường đi kèm với xu hướng đầu cơ gia tăng. Khi chi phí vốn tăng, nhà đầu tư buộc phải cân nhắc kỹ hơn, qua đó hạn chế các quyết định mang tính ngắn hạn, rủi ro cao.

Ở góc độ thị trường chứng khoán, các chuyên gia phân tích của Kafi cho rằng, lãi suất tăng cũng kéo theo suất chiết khấu trong định giá cổ phiếu đi lên. Điều này đồng nghĩa, trong trường hợp triển vọng tăng trưởng không thay đổi, mức định giá hợp lý của cổ phiếu có xu hướng giảm. Tuy nhiên, doanh nghiệp có nền tảng tài chính vững vàng vẫn sẽ duy trì được “vùng đệm” nhất định.

Hòa Phát (mã chứng khoán: HPG) dù ghi nhận tổng nợ phải trả lên tới 126.600 tỷ đồng vào cuối năm 2025, song nợ ròng chỉ hơn 64.300 tỷ đồng. Với kịch bản lãi suất tăng 1%, chi phí tài chính của doanh nghiệp này có thể tăng hơn 640 tỷ đồng. Tuy nhiên, nhờ duy trì lượng tiền mặt lớn khoảng 27.700 tỷ đồng, Hòa Phát không chỉ giảm áp lực chi phí mà còn hưởng lợi một phần từ lãi tiền gửi tăng.

Không chỉ khu vực doanh nghiệp, hệ thống ngân hàng cũng chịu tác động khi chi phí huy động vốn tăng nhanh hơn lãi suất đầu ra trong ngắn hạn. Tính đến cuối tháng 3/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã tăng khoảng 2,02% so với cuối năm trước.

Theo tính toán của Kafi, khi lãi suất tăng thêm 1%, lợi nhuận tài chính của nhiều doanh nghiệp có thể cải thiện đáng kể, như Tập đoàn Bảo Việt (mã chứng khoán: BVH) sẽ tăng khoảng 1.200 tỷ đồng, Tổng công ty CP Đầu tư quốc tế Viettel (mã chứng khoán: VGI) tăng 400 tỷ đồng, PVGas (mã chứng khoán: GAS) là 368 tỷ đồng…

Những doanh nghiệp vốn quen dựa vào đòn bẩy tài chính để bứt tốc trong quá khứ có thể sẽ mất đi sức hút vốn có. Ngược lại, những cái tên có khả năng tạo ra dòng tiền thuần dồi dào và ổn định đang trở thành điểm đến ưu tiên của dòng vốn thông minh.

Tựu trung, lãi suất tăng là lời nhắc rõ ràng về kỷ luật tài chính. Với doanh nghiệp, đây là thời điểm buộc phải rà soát lại cấu trúc vốn, cắt giảm chi phí và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản.

Với nhà đầu tư, thị trường bước vào giai đoạn “định giá lại”, đòi hỏi cách nhìn thận trọng và sâu hơn. Thay vì chỉ tập trung vào tăng trưởng doanh thu, cần chú ý nhiều hơn đến sức khỏe tài chính, đặc biệt là bảng cân đối kế toán. Thực tế cho thấy, những giai đoạn tiền tệ thắt chặt thường là lúc dễ nhận diện đâu là doanh nghiệp có nền tảng vững, khi những yếu tố bề nổi dần bị loại bỏ.

Có thể bạn quan tâm