Quy trình mới về giải quyết hưởng và chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

Quy trình giải quyết hưởng và chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp mới được ban hành dựa trên mô hình tổ chức mới của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Cổng Dịch vụ công trực tuyến của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Cổng Dịch vụ công trực tuyến của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành Quyết định số 2222/QĐ-BHXH về việc ban hành Quy trình giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. Đây là văn bản quan trọng nhằm chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, bảo đảm thống nhất trong thực hiện giải quyết hưởng và chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, hướng tới nâng cao chất lượng phục vụ, tạo thuận lợi tối đa cho người dân và doanh nghiệp.

Quy trình gồm 6 chương, 34 điều, trong đó, quy định rõ trách nhiệm và nội dung công việc của các đơn vị thuộc hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bảo hiểm xã hội Quân đội, Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân trong việc tổ chức thực hiện các khâu tiếp nhận, giải quyết và chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp theo đúng quy định của pháp luật.

Các chế độ bảo hiểm xã hội được áp dụng trong Quy trình gồm: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất và bảo hiểm thất nghiệp. Mỗi chế độ đều được quy định cụ thể về hồ sơ, điều kiện giải quyết, thời hạn thực hiện, hình thức chi trả và quy trình phối hợp giữa các bộ phận có liên quan.

Quy trình xác định rõ nguyên tắc tiếp nhận và xử lý hồ sơ, theo hướng tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người tham gia và thụ hưởng chính sách, tăng cường sử dụng dịch vụ công trực tuyến, tiếp nhận hồ sơ điện tử, hạn chế hồ sơ giấy. Đồng thời, khuyến khích người hưởng nhận tiền qua tài khoản cá nhân nhằm bảo đảm minh bạch, an toàn và phù hợp với xu thế chuyển đổi số trong lĩnh vực an sinh xã hội.

Trong công tác giải quyết chế độ, các đơn vị có trách nhiệm kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ; đối chiếu dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu hộ tịch và các hệ thống chuyên ngành có liên quan. Việc giải quyết đúng thời hạn, đúng đối tượng, đúng quy định pháp luật là yêu cầu xuyên suốt trong toàn bộ quy trình.

Các chế độ bảo hiểm xã hội được áp dụng trong Quy trình gồm: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất và bảo hiểm thất nghiệp. Mỗi chế độ đều được quy định cụ thể về hồ sơ, điều kiện giải quyết, thời hạn thực hiện, hình thức chi trả và quy trình phối hợp giữa các bộ phận có liên quan.

Đối với công tác chi trả, Quy trình nêu rõ việc thực hiện chi trả qua các hình thức phù hợp, ưu tiên phương thức không dùng tiền mặt. Đồng thời, quy trình cũng quy định các bước kiểm tra, đối soát dữ liệu chi trả, xác minh thông tin người hưởng, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, đúng thời điểm.

Đặc biệt, Quy trình yêu cầu tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các khâu nghiệp vụ, khai thác và sử dụng hiệu quả dữ liệu đã được số hóa, thực hiện đồng bộ với các hệ thống quản lý của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và cơ sở dữ liệu dùng chung của Chính phủ. Qua đó, góp phần nâng cao năng suất lao động, minh bạch hóa quy trình và phục vụ tốt hơn người dân.

Bên cạnh đó, Quy trình cũng quy định rõ trách nhiệm kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện. Các đơn vị trực thuộc có trách nhiệm tổ chức thực hiện, định kỳ báo cáo, đề xuất giải pháp tháo gỡ vướng mắc, nâng cao chất lượng giải quyết và chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.

Quyết định số 2222/QĐ-BHXH có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/7/2025, thay thế cho ba quyết định sau.

Đó là: Quyết định số 166/QĐ-BHXH ngày 31/1/2019 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành Quy trình giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; Quyết định số 686/QÐ-BHXH ngày 29/5/2024 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của quy trình giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 166/QĐ-BHXH ngày 31/1/2019; Quyết định số 1548/QĐ-BHXH ngày 23/5/2025 của Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam về việc sửa đổi, bồ sung một số điều của quy trình giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 166/QĐ-BHXH ngày 31/1/2019 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2025, toàn quốc có gần 19 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội. Trong đó, số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là 17,061 triệu người, bảo hiểm xã hội tự nguyện là 1,897 triệu người. Số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp là 15,354 triệu người.

Cùng với đó, cơ quan này đã giải quyết cho 61.673 người hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội hằng tháng; 585.504 người hưởng chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần; hơn 4,4 triệu lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức.

Ngoài ra, toàn hệ thống đã tiếp nhận 389.247 quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp và 8.014 quyết định hỗ trợ học nghề.

Sáu tháng qua, cả nước có gần 96 triệu lượt người khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, ước chi gần 76.100 tỷ đồng, tăng gần 10 nghìn tỷ đồng so cùng kỳ năm 2024.

Có thể bạn quan tâm

Hoạt động khám sức khỏe định kỳ cho học sinh trước năm học mới 2026-2027. (Ảnh: HÀ NGUYỄN)

Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả kiểm tra sức khỏe đầu năm học

Bộ Y tế quy định kinh phí thực hiện kiểm tra sức khỏe đầu năm học được bảo đảm từ nhiều nguồn; gồm nguồn kinh phí sự nghiệp y tế, giáo dục và đào tạo hằng năm theo phân cấp ngân sách hiện hành của các đơn vị; nguồn từ Quỹ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế; nguồn hỗ trợ từ Quỹ Phòng bệnh...

Khám bệnh cho người dân tại Phòng khám đa khoa Bệnh viện Đại học Y Hà Nội-cơ sở Vĩnh Hưng. (Ảnh nhandan.vn)

Hà Nội: Yêu cầu bảo đảm đầy đủ quyền lợi bảo hiểm y tế với người bệnh đủ điều kiện

Bảo hiểm xã hội Hà Nội yêu cầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế cần xác định và giải quyết mức hưởng 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế với người tham gia từ đủ 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở theo quy định.

Thay vì phải mang theo thẻ bảo hiểm y tế giấy, người dân có thể sử dụng căn cước công dân gắn chip hoặc các ứng dụng VssID, VNeID khi đi khám, chữa bệnh. (Ảnh: VĂN ÚT)

Bảo hiểm xã hội Cần Thơ chuyển đổi số phục vụ người dân và doanh nghiệp

Chuyển đổi số đang từng bước làm thay đổi phương thức phục vụ của Bảo hiểm xã hội thành phố Cần Thơ. Từ giải quyết thủ tục hành chính, giao dịch điện tử, kết nối và xác thực dữ liệu đến khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế và chi trả các chế độ an sinh, chuyển đổi số ngày càng hiện rõ hơn trong giao dịch của người dân, doanh nghiệp.

Toàn cảnh hội nghị trực tuyến toàn quốc. (Ảnh: nhandan.vn)

Bảo đảm quyền lợi người tham gia khi chuyển đổi sử dụng số căn cước công dân thay thế mã số bảo hiểm xã hội

Ngày 27/8, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổ chức hội nghị trực tuyến tập huấn, triển khai chuyển đổi sử dụng số định danh cá nhân/căn cước công dân thay thế mã số bảo hiểm xã hội và bộ mã quản lý trên các phần mềm nghiệp vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Cảnh báo mạo danh cơ quan bảo hiểm xã hội yêu cầu cập nhật thông tin trên VssID.

Cảnh giác việc mạo danh cán bộ bảo hiểm xã hội, yêu cầu cập nhật thông tin thẻ bảo hiểm y tế

Cơ quan bảo hiểm xã hội cảnh báo tình trạng đối tượng giả danh cán bộ bảo hiểm xã hội gọi điện thông báo thẻ bảo hiểm y tế của người dân gặp lỗi, hết hạn hoặc cần cập nhật. Người dân tuyệt đối không cung cấp thông tin, truy cập đường link lạ hay chuyển tiền theo hướng dẫn qua điện thoại.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam tăng cường bảo đảm an toàn thông tin mạng dịp nghỉ lễ Quốc khánh

Bảo hiểm xã hội Việt Nam tăng cường bảo đảm an toàn thông tin mạng dịp nghỉ lễ Quốc khánh

Các đơn vị của Bảo hiểm xã hội Việt Nam tăng cường nhiều biện pháp bảo đảm an toàn thông tin mạng trong dịp nghỉ lễ Quốc khánh năm 2026 để chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các nguy cơ, sự cố an toàn thông tin mạng, bảo đảm hoạt động ổn định, liên tục của các hệ thống thông tin phục vụ người dân, doanh nghiệp.