Chi trả kịp thời các chế độ tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp
Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là một trong năm chế độ của chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc, được quy định cụ thể trong Luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015.
Chế độ này nhằm chia sẻ gánh nặng, bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của người lao động khi họ không may bị tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp.
Trong năm 2025, chính sách bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp tiếp tục được Bảo hiểm xã hội Việt Nam triển khai, thực hiện đồng bộ từ trung ương đến địa phương. Công tác tiếp nhận, giải quyết hưởng và chi trả các chế độ được thực hiện kịp thời, đúng quy định gắn với đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, qua đó nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Việc giải quyết hưởng trợ cấp tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp đối với người lao động trong những năm gần đây không có nhiều biến động.
Cụ thể, trong năm 2025, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã giải quyết hưởng mới trợ cấp tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp hằng tháng đối với 2.099 người (tăng 1,3%, tương ứng tăng 27 người so với năm 2024). Trong khi đó, số lượt người giải quyết hưởng mới trợ cấp tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp một lần có xu hướng giảm nhẹ so với năm 2024, với con số thụ hưởng chính sách một lần là 5.019 người, giảm 5,6%, tương ứng giảm 300 người so với năm 2024.
Trong năm 2025, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã giải quyết hưởng mới trợ cấp tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp hằng tháng đối với 2.099 người và trợ cấp tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp một lần cho 5.019 người.
Cùng với việc chi trả trợ cấp tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp cho người lao động không may gặp rủi ro, Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp còn dành kinh phí chi hỗ trợ phòng ngừa, chia sẻ rủi ro và chuyển đổi nghề nghiệp. Trong năm qua, tổng số tiền chi khoản hỗ trợ này trên cả nước là khoảng 694 triệu đồng, giảm 12,8% (tương đương khoảng 50 triệu đồng), so với năm 2024.
Lý giải về thực trạng trên, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho rằng, các doanh nghiệp ngày càng quan tâm đến việc thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn vệ sinh, lao động, tăng cường, chủ động phòng ngừa, giảm thiểu tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc; bảo đảm sức khỏe, an toàn tính mạng cho người lao động tại nơi làm việc.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam đánh giá, điểm thuận lợi trong triển khai chính sách bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp là nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác an toàn, vệ sinh lao động ngày càng nâng cao.
Việc triển khai thực hiện Đề án 06 của Chính phủ, công tác chuyển đổi số được đưa vào ứng dụng trong giải quyết hưởng chế độ tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp bảo đảm giải quyết chế độ đối với người lao động nhanh chóng, thuận lợi, chính xác.
Công tác chi trả các chế độ tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp được thực hiện kịp thời, theo đúng quy định của pháp luật. Việc chi trả được đa dạng hóa các hình thức chi trả, đẩy mạnh việc chi trả qua phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Công tác triển khai đã nhận được sự quan tâm, phối hợp của các cơ quan báo chí, các bộ, ngành có liên quan, thực hiện lồng ghép linh hoạt với công tác tuyên truyền ý nghĩa, mục tiêu của chính sách.
Hoạt động thông tin, tuyên truyền, giáo dục chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đã được các cấp, các ngành phổ biến kịp thời đến đơn vị sử dụng lao động và người lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội tại địa phương không ngừng đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền chính sách pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đặc biệt là Luật An toàn, vệ sinh lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành. Nhấn mạnh thông tin truyền thông về quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia lao động, các biện pháp phòng ngừa, nhận diện, đánh giá nguy cơ rủi ro về an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động. Coi trọng việc ứng dụng công nghệ thông tin, từng bước triển khai thực hiện chuyển đổi số trong công tác truyền thông, tuyên truyền về an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với tình hình thực tiễn và từng nhóm đối tượng.
Tổ chức hiệu quả công tác đối thoại, tuyên truyền, thu hút sự tham gia của người lao động trong Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động.
Cần gỡ những vướng mắc
Cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng nhận định, trong thực tế còn một số khó khăn, hạn chế trong công tác tổ chức, thực hiện chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Cụ thể, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động và người sử dụng lao động khi tiếp cận với chế độ nhưng lại là thách thức cho cơ quan bảo hiểm xã hội trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện cơ sở dữ liệu giữa các bộ, ngành chưa được chia sẻ đầy đủ.
Vẫn còn tình trạng nợ đọng, trốn đóng bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp ở hầu hết các địa phương gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật và mục tiêu của chính sách an sinh xã hội.
Bên cạnh đó, trong quá trình tổ chức, triển khai thực hiện Luật An toàn vệ sinh, lao động vẫn còn tồn tại một số vướng mắc kéo dài nhiều năm. Có thể kể đến như:
Việc xác định thể nào là điều trị "ổn định thương tật, bệnh tật" cũng không có căn cứ pháp lý rõ ràng;
Việc xác định thời gian tối đa nghỉ dưỡng sức, phục hồi khi người lao động chưa nhận được kết luận giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa trong thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc chưa có hướng dẫn cụ thể;
Việc chi trả tiền mua phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình hiện nay vẫn chi trả theo 2 loại đối tượng (Đối với người hưởng trước ngày 1/1/2007 thì được căn cứ theo niên hạn của sản phẩm trang cấp và hóa đơn chứng từ mua sản phẩm, đối với người hưởng sau ngày 1/1/2007 thì căn cứ theo niên hạn của sản phẩm và các mức hỗ trợ được quy định theo các quy định từng thời kỳ được ban hành theo thông tư của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (trước đây) nên việc theo dõi, quản lý chi trả không đồng nhất...
Từ thực tế này, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đề xuất một số giải pháp và định hướng thời gian tới.
Trước hết, cần hoàn thiện chính sách pháp luật về chế độ tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp.
Đề nghị Chính phủ nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật An toàn, vệ sinh lao động để hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, tháo gỡ các nội dung vướng mắc trong tổ chức thực hiện cũng như đồng nhất với các luật có liên quan như: Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi)... Bổ sung các chế tài xử phạt đối với các đơn vị vi phạm về thực thi Luật An toàn, vệ sinh lao động. Quy định rõ trách nhiệm của cơ quan công an, chính quyền địa phương trong việc xử lý vi phạm về tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp
Bảo hiểm xã hội Việt Nam mong muốn Bộ Nội vụ, Bộ Y tế thực hiện chia sẻ dữ liệu về lao động và dữ liệu về khám bệnh, chữa bệnh để kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và dữ liệu của cơ quan này, tạo thuận lợi trong giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp nói riêng.
Đề nghị Bộ Nội vụ nghiên cứu, hoàn thiện khung pháp lý làm căn cứ cho việc xác định tai nạn lao động đối với các trường hợp bị tai nạn khi thực hiện các nhiệm vụ ngoài nhiệm vụ được xác định trong hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, bảo đảm thực hiện minh bạch, công bằng và thống nhất; quy định cụ thể đối với những trường hợp vướng mắc đã nêu ở trên.
Đề nghị Chính phủ nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật An toàn, vệ sinh lao động để hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, tháo gỡ các nội dung vướng mắc trong tổ chức thực hiện cũng như đồng nhất với các luật có liên quan như: Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi)...
Song song với đó là hoàn thiện tổ chức thực hiện chế độ tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp.
Theo đó, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết hưởng chế độ tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp.
Tăng cường phối hợp với các cơ quan, ban ngành tại địa phương, đa dạng hình thức phổ biến, tuyên truyền để các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nắm rõ vai trò cũng như trách nhiệm, nghĩa vụ trong thực hiện Luật An toàn, vệ sinh lao động.
Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp tại địa phương, chỉ đạo xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp và công khai tình trạng trốn đóng, chậm đóng, chiếm dụng tiền đóng bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp.
Ban hành quy định về công tác phối hợp thực hiện chính sách bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp nhằm xác định rõ trách nhiệm của các sở, ban, ngành tại địa phương trong tổ chức thực hiện Luật An toàn, vệ sinh lao động.