Ngược thượng nguồn

Pô Kô ngân vang một dòng chảy

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, dòng Pô Kô (Kon Tum) là biểu tượng đồng lòng, hiệp sức của tình quân dân, hình ảnh người lái đò A Sanh giữa sông sâu đẩy lùi sóng dữ, được bao thế hệ mãi khắc ghi...
Thác Siu Puông đầu nguồn sông Pô Kô. Ảnh: NGUYỄN BAN
Thác Siu Puông đầu nguồn sông Pô Kô. Ảnh: NGUYỄN BAN

“Hỡi Pô Kô ơi, dòng sông mênh mông/Đôi bờ cây xanh biếc, nước chảy xiết sâu thẳm”. Pô Kô luôn ngân vang một dòng chảy mang bản sắc độc đáo của Tây Nguyên hùng vĩ.

Đăk Na, nỗi buồn để lại phía sau

Đăk Na cách thị trấn Tu Mơ Rông khoảng 40km, cách thành phố Kon Tum khoảng 90km, dân thôn bản sống trong nhà sàn trải dọc ven sông, lưng chừng núi, gần gũi thiên nhiên. Văn hóa của đồng bào gắn với những bộ cồng chiêng, nghi thức truyền thống tốt đẹp. “Trong dòng chảy của cuộc sống hôm nay, người Xơ Đăng cũng nhận ra giá trị của riêng mình, chúng tôi khôi phục lại đội chiêng trong sinh hoạt cộng đồng, hóa giải nỗi đau, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, thỉnh thoảng cũng được mời đi thi thố với nhiều địa phương khác”, nghệ nhân A Gạo, thôn Mô Bành 2, cho biết.

Người Xơ Đăng ở xã Đăk Na (Tu Mơ Rông, Kon Tum) - thượng nguồn của dòng sông Pô Kô vẫn giữ cuộc sống cộng đồng gắn kết, thân thương. Nơi đây có thác Siu Puông, thác Siu Mô Mam, thác C2 chảy ra từ những cánh rừng phía tây của dãy Ngọc Linh. Nhìn xa, dòng thác như một búi tơ trắng muốt được kéo ra, trục xuống từ cánh rừng. Mà rừng ở đây rất lạ, lá non ngọn cây luôn có mầu đỏ hoặc vàng.

Thác đẹp chỉ để cho người đi chơi ngắm nó, còn người dân ở đây phải lo lao động mùa màng, khi nông nhàn thì họ lại đan lát để giữ gìn đôi bàn tay khéo léo. “Dòng sông trong vắt, dòng suối ngân vang, dòng thác thì ồn ào. Quanh năm nó chảy mãi nên chúng tôi không bị khô khát. Nhưng có lúc nó cũng như bà điên, ông khùng, ùng ục, húc núi, lấp ruộng, cuốn trôi mùa màng nhà cửa trâu bò và cả con người nữa”, ông A Đơng, thôn Mô Bành 2 (Đăk Na) hồi tưởng.

Tháng 10/2009, mưa dầm bão đổ, một trận lở núi ở hai thôn Mô Bành 1 và Mô Bành 2, cướp đi nhiều mạng người. A Đơng nhớ lại: “Lúc đó, chúng tôi đang nghỉ ngơi. Có nhà thì đang ăn, có nhà chuẩn bị ăn bữa cơm trưa. Bỗng thình thịch, răng rắc quanh nhà của mình. Nền đất chuyển động. Người trong thôn bỏ cơm mà chạy, kêu nhau mà chạy”.

Trận sạt lở ở xã Đăk Na đã trôi qua 13 năm, thế hệ trẻ em ngày đó, nay nhiều người đã có gia đình, Y Riêng, bản Mô Bành 1, địu con, giặt giũ bên dòng nước, cho hay: “Ngày đó tôi còn nhỏ, đang ở trên trường học, được thầy cô giáo nói cứ ở lại trường học. Các thầy cô nấu cơm cho chúng tôi ăn. Mấy ngày sau, có bộ đội mang gạo, mang thức ăn và quần áo chăn màn đến trường”.

Đồi núi sạt lở đã được cây rừng mọc lên che phủ, mọi biến động của thiên nhiên cũng đã được chính thiên nhiên chuyển động vá víu lấp đầy. Bên thượng nguồn, vẫn là câu chuyện bàn định làm mùa, chăn nuôi phát triển kinh tế của mỗi gia đình hướng về phía trước và chuyện buồn để lại phía sau.

Đầu nguồn sông vào mùa khô. Ảnh: NGUYỄN BAN

Đầu nguồn sông vào mùa khô. Ảnh: NGUYỄN BAN

Giữ rừng thượng nguồn Pô Kô

Sông Pô Kô còn có tên gọi Krông Pô Kô hoặc Đak Pô Kô. Chữ Đắk theo cách lý giải của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên, có nghĩa là nước. Vậy, không cần phải thêm chữ “nước” cho tên sông thêm dài. Sông Pô Kô nhập vào dòng Đắk Bla và đổi thành sông Sê San, qua nước bạn Campuchia, sông chảy vào dòng Mê Công.

“Trong kháng chiến, chúng ta cùng đánh Mỹ”, anh Nguyễn Văn Hoàng, phụ trách một đội cao-su, hát vậy. Đơn vị khai thác cây cao-su của anh, xã Ia Tơi, huyện Ia H’Drai nằm cuối nguồn dòng chảy trước khi sang nước bạn. Huyện Ia H’Drai được tách ra từ huyện Sa Thầy, năm 2015. Và dòng Pô Kô sau nhiều lần đổi tên, có một đoạn chảy là biên giới với nước bạn. Hoàng nói: “Thực ra, có chỗ đã gọi là dòng Sê San, nhưng có chỗ vẫn gọi là sông Pô Kô. Phải tính từ thủy điện Yaly trở xuống, sông mới chính thức có tên gọi Sê San”.

Hoàng kể, ngày trước, đóng quân ở Tây Nguyên và sau đó về các đơn vị làm kinh tế. Ngày đó, đường giao thông không thuận tiện, mỗi khi đứng trước một dòng sông, nhìn sự cuộn chảy của nó, trong tôi đều ngân vang, “hỡi Pô Kô, ơi dòng sông mênh mông” cho tôi sang bờ bên kia với.

Hoàng trưởng thành trong quân đội, lặn lội trên vùng đất Tây Nguyên và phá cách những câu hát để đặt vào tình huống khó khăn ngặt nghèo của bản thân khi qua sông, qua suối, qua núi, qua đèo. Trên dòng sông Pô Kô - Sê San, sau khi hình thành các hồ chứa nước cho thủy điện, tại đây cũng hình thành nhiều làng nổi, xóm chài của người từ đồng bằng sông Cửu Long lên, người từ làng chài ở Huế vào lập làng đánh cá và nuôi cá lồng bè. Nói đến đặc sản của dòng sông, mọi người đều nhớ mãi món cá cơm thơm giòn.

Trong lịch sử thủy điện theo dòng chảy sông Pô Kô, thủy điện Yaly được xây dựng sau khi khánh thành Nhà máy Thủy điện Hòa Bình. Nhiều công nhân xây dựng thủy điện Hòa Bình được khuyến khích vào Tây Nguyên.

Trở lại cuộc sống bên dòng chảy của dòng Pô Kô, vào mùa mưa bão, nhiều cây cầu treo qua sông bị nước cuốn trôi, người dân đôi bờ qua lại tạm thời bằng cáp treo tự tạo. Cơn bão số 9 (30/10/2020) khiến người dân thôn Tà Poók (xã Đăk Nông, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum) không thể qua sông để thâm canh ruộng nương của mình. Anh A Cường, ngụ tại thôn trên cho biết: “Mỗi ngày đu dây bốn hoặc sáu lần. Ruộng của mình bên kia sông, không sang làm thì không có ăn. Phải liều thôi. Nhưng đi quen cũng thấy bình thường”.

Dòng Pô Kô là dòng chảy đối lập hai mùa. Mùa mưa, nước đục, chảy ầm ào, phá núi, mở dòng. Mùa khô, dòng chảy êm đềm, trong vắt, nhiều đoạn đầu nguồn, đá chỏng chơ phơi nắng. Trong quan niệm của Xơ Đăng, nước là tặng phẩm tinh tế của rừng già cho con người, ông A Đơng, thôn Mô Bành 2 (Đăk Na, Tu Mơ Rông) cho hay: “Lễ cúng thần nước vào ngày trăng tròn tháng 3. Thần nước (Yang Dak) giúp cho cây lúa tốt, giúp con người tắm gội khỏe mạnh để lao động mỗi ngày”. Bên dòng Pô Kô, người ta không chỉ bàn về nước, về năng lượng, nông nghiệp, sức khỏe, đa dạng sinh học, mà còn nói với nhau về một dòng chảy nữa, ấy là văn hóa lễ hội mang bản sắc riêng của Tây Nguyên.

Một nhánh khác của dòng sông Pô Kô bắt đầu từ đỉnh đèo Lò Xo (xã Đăk Man, Đăk Glei, Kon Tum). Phía đông của đèo, rừng còn nhiều, phía tây, rừng bị phá tan hoang. Vào đầu mùa khô, khi đầu nguồn con sông Pô Kô nắng vàng nhẹ và bụi đỏ của đất thì phía đông vẫn mưa từng cơn ướt đường. Trên đường Hồ Chí Minh có cây cầu Đăk Niên (Đăk Glei, Kon Tum), là cây cầu đầu tiên bắc qua dòng Pô Kô tính từ thượng nguồn phía bắc của dòng chảy. Ở nhánh này, nước cũng được bắt đầu từ những cánh rừng trong khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh. Nhiều năm nay, các lớp tập huấn giữ rừng cộng đồng các thôn Măng Khênh, Đông Lốc, Đông Nây đều đặn được tổ chức, nhằm giữ gìn, bảo tồn rừng và nguồn nước.

Sông Pô Kô hôm nay nước vẫn chảy xiết sâu thẳm nhưng đôi bờ cây đã bớt biếc xanh. Thật tiếc! May chăng, ngược thượng nguồn vẫn còn chút bóng dáng hùng vĩ của dòng sông xưa, đó là không gian rừng còn sót lại trên đỉnh núi cao nhưng cũng đầy thảng thốt.

Những năm gần đây, bằng mắt thường cũng nhận thấy, nạn phá rừng Trường Sơn Đông của các tỉnh duyên hải miền trung, nạn phá rừng ở Tây Nguyên đã đến mức báo động. Rừng mất, khiến nhiều cơn bão cuối năm đã vượt dãy núi lên Tây Nguyên quần thảo, gây hậu quả khốc liệt ở bất cứ địa bàn nào vào mùa mưa. Ngược lại, vào mùa khô, lưu vực của nhiều dòng sông lại chuyển thành vùng hạn hán.

Có thể bạn quan tâm

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.

Máy bay An-24 có lịch trình bay Gia Lâm - Đà Nẵng - Tân Sơn Nhất.

Phút giây sinh tử của người chiến sĩ an ninh hàng không

Không lâu sau khi máy bay cất cánh từ đường băng sân bay Đà Nẵng, bọn không tặc ra tay hành động. Hai tên phía trước đứng dậy rút lựu đạn, hai tên phía sau hét lớn, khống chế hành khách. Trong khoang chiếc máy bay 45 chỗ ngồi chật chội, không khí hoảng loạn, tiếng la hét, tiếng kêu khóc lẫn trong tiếng quát tháo đe dọa...

Thu hoạch chè ở Tả Củ Tỷ.

Đánh thức hương chè cổ giữa ngàn mây Tả Củ Tỷ

Trong bảng lảng sương mây bao phủ khắp đỉnh Tả Củ Tỷ (Lào Cai), nơi những dãy núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành ngăn cách nơi này với thế giới bên ngoài, có một loài cây đã bám rễ sâu vào lòng đất từ hàng trăm năm trước. Đó là chè Tuyết Shan cổ thụ - báu vật của đại ngàn.

Đại tá phi công Hoàng Biểu.

Ánh sao đêm trên cung lửa

Có những chuyến bay đêm trên vùng trời Khu 4, từ độ cao vài nghìn mét, Đại tá, phi công Hoàng Biểu nhìn xuống mặt đất chỉ thấy một màu đen đặc quánh. Không làng mạc, không ánh đèn. Chỉ có mùi của chiến tranh ngột ngạt và đáng sợ.