Giúp lao động làng nghề tiếp cận an sinh xã hội

Hiện cả nước có khoảng 11 triệu lao động trong các làng nghề, nhưng tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng như bảo hiểm xã hội tự nguyện còn thấp. Điều này dẫn đến nguy cơ lọt lưới an sinh với nhóm đối tượng này khi họ hết tuổi lao động.
Lao động làm sản phẩm truyền thống tại làng nghề khảm trai Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. (Ảnh: DUY KHÁNH)
Lao động làm sản phẩm truyền thống tại làng nghề khảm trai Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. (Ảnh: DUY KHÁNH)

Lao động làng nghề: Lực lượng lớn với hơn 11 triệu người

Hiện cả nước có 5.407 làng nghề đang hoạt động, trong đó có 1.748 làng nghề truyền thống, thu hút khoảng 11 triệu lao động và mang lại kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,7 tỷ USD/năm. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra những cơ hội, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức lớn đối với các làng nghề, nhất là đối với những cơ sản xuất nhỏ lẻ, sản phẩm tụt hậu, chất lượng lao động thấp.

Đây là thông tin từ tọa đàm với chủ đề “Để lao động làng nghề tiếp cận an sinh xã hội” diễn ra chiều 22/5 tại huyện Ứng Hòa (Hà Nội). Sự kiện do Báo Kinh tế và Đô thị, Tổ chức ActionAid quốc tế tại Việt Nam (AAV) và Quỹ Hỗ trợ chương trình, dự án an sinh xã hội Việt Nam (AFV) phối hợp tổ chức, nằm trong khuôn khổ các hoạt động của chương trình truyền thông “Những cống hiến thầm lặng năm 2024”.

Tại tọa đàm, các chuyên gia đã cùng trao đổi để đưa ra các giải pháp, đề xuất các chính sách để góp phần bảo đảm chính sách an sinh xã hội, nâng cao tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động tại làng nghề.

Các đại biểu dự tọa đàm. (Ảnh: DUY KHÁNH)

Các đại biểu dự tọa đàm. (Ảnh: DUY KHÁNH)

Các đại biểu rất quan tâm đến việc thu hút, khuyến khích lao động làng nghề tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Đây được coi đây là một trong những chính sách an sinh xã hội có ý nghĩa quan trọng giúp người lao động tự do, người có thu nhập thấp có cuộc sống ổn định khi không còn khả năng lao động.

Hiện cả nước có 5.407 làng nghề đang hoạt động, trong đó có 1.748 làng nghề truyền thống, thu hút khoảng 11 triệu lao động.

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một trong những chính sách an sinh xã hội có ý nghĩa quan trọng giúp người lao động tự do, người có thu nhập thấp có thể bảo đảm cuộc sống khi không còn khả năng lao động. Tuy nhiên, nhiều lao động ở các làng nghề chưa quan tâm tham gia loại hình bảo hiểm này. Nguyên nhân là vì chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa thực sự hấp dẫn với lao động khu vực phi chính thức; nhiều thông tin về chính sách chưa tiếp cận được với lao động làng nghề.

Chia sẻ từ thực tế, ông Ngô Xuân Giang, Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Ứng Hòa (Hà Nội) cho biết, là huyện thuần nông, đời sống kinh tế của người dân trên địa bàn huyện còn gặp nhiều khó khăn, có mức sống trung bình. Mặt khác, huyện Kim Bảng (tỉnh Hà Nam), một khu vực có nhiều khu công nghiệp, ở ngay cạnh Ứng Hòa nên đã thu hút nhiều lao động địa phương sang làm việc ở đây. Vì thế, trên địa bàn chỉ còn lại những người trung niên, người già không có khả năng lao động để tạo thu nhập ở nhà. Thực trạng này dẫn đến việc tham gia bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Ứng Hòa đạt thấp.

Thí dụ như, xã Quảng Phú Cầu, nơi nổi tiếng với nghề làm tăm hương truyền thống, có dân số 12.656 người. Số trong độ tuổi lao động 7.379 với mức thu nhập bình quân là 72 triệu đồng/năm/lao động nhưng hiện tại chỉ có 88 người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Trong thực tế, có người dân sẵn sàng chi cả chục triệu đồng một năm để tham gia bảo hiểm thương mại, nhưng lại cân nhắc với số tiền vài trăm đồng hoặc hơn 1 triệu đồng để tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Lý do chính là họ chưa hiểu chính xác về về chính sách an sinh xã hội của Nhà nước.

Ông Giang cũng nhấn mạnh, chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện đã được Nhà nước hỗ trợ các mức đóng hợp lý để tạo thuận lợi cho người dân tham gia, được hưởng các chế độ khi về già. Đây là chính sách đó rất nhân văn của Đảng và Nhà nước, giúp người dân được tiếp cận chế độ hưu trí và tử tuất.

Đặc biệt, thành phố Hà Nội hỗ trợ thêm cho người dân trên địa bàn Thủ đô trong thời gian từ tháng 8/2022 đến 31/12/2025 với mức hỗ trợ bằng Chính phủ hỗ trợ. Như vậy, người dân Hà Nội đã được hỗ trợ hai lần. Với lao động địa phương của huyện chủ yếu ở lứa tuổi trung niên, không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, việc tham gia đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện là khó khăn do còn phụ thuộc vào gia đình, con cái. Đối với lao động trẻ có sức khỏe, họ chỉ nghĩ đến thu nhập trước mắt, mà chưa nghĩ đến tương lai lâu dài. Đây cũng là một trong những khó khăn trong việc tuyên truyền để người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Giảm nguy cơ lọt lưới an sinh với lao động làng nghề

Chia sẻ tại tọa đàm, Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Hỗ trợ chương trình, dự án an sinh xã hội Việt Nam (AFV) Tạ Việt Anh cho biết, làng nghề đóng vai trò quan trọng trong công tác xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Hỗ trợ chương trình, dự án an sinh xã hội Việt Nam Tạ Việt Anh chia sẻ tại tọa đàm. (Ảnh: DUY KHÁNH)
Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Hỗ trợ chương trình, dự án an sinh xã hội Việt Nam Tạ Việt Anh chia sẻ tại tọa đàm. (Ảnh: DUY KHÁNH)

Lợi ích của việc phát triển làng nghề không chỉ phát triển kinh tế, giải quyết việc làm cho lao động địa phương mà còn góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống.

Điểm chung của nhiều làng nghề là thường nằm trên các trục giao thông đường bộ hay đường sông. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các điểm/tuyến du lịch lữ hành. Ngoài những lợi thế như cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa lý, nét văn hóa đặc sắc, các làng nghề còn có sức hút đặc biệt bởi mỗi làng lại gắn với một vùng văn hóa hay các di tích lịch sử.

Trong thực tế, thu nhập bình quân của lao động tại các làng nghề cao hơn gấp 2-3 lần lao động thuần nông. Tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực có làng nghề thấp hơn nhiều so với tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước, qua đó, góp phần ổn định an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động tại làng nghề tham gia đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện rất thấp. Điều này dẫn đến nguy cơ lọt lưới an sinh khi người dân hết tuổi lao động, tạo gánh nặng cho con cái, cộng đồng khi về già.

Một phần lý do của tình trạng trên là thu nhập của lao động làng nghề cũng chưa ổn định. Một trong những lý do quan trọng nữa là các thủ tục, cơ chế chính sách của bảo hiểm xã hội chưa thật sự thông thoáng, thuận tiện, chưa hấp dẫn người dân. Hiện tại, những người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện mới có hai chế độ hưu trí và tử tuất.

Qua 7 năm thực hiện, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 chưa có sự phân định cụ thể về lao động làng nghề tham gia bảo hiểm xã hội. Nhưng qua khảo sát tại các làng nghề, có thể thấy, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là rất thấp, có những rào cản khiến lao động chưa mặn mà với chính sách này.

Ông Tạ Việt Anh nhấn mạnh, dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) dự kiến được đưa ra thảo luận tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV vào cuối tháng 5 này. Dự thảo Luật đang bám sát 5 nhóm chính sách cụ thể. Đó là: Xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng, linh hoạt; mở rộng diện bao phủ đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội; mở rộng diện bao phủ đối tượng thụ hưởng bảo hiểm xã hội (lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội); bổ sung nội dung quy định quản lý thu, đóng bảo hiểm xã hội; đa dạng hóa danh mục, cơ cấu đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội theo nguyên tắc an toàn, bền vững, hiệu quả.

Đại diện của AFV hy vọng, trong lần bàn thảo của kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XV, dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) sẽ giữ được các điều khoản nhằm tạo điều kiện cho mục tiêu bao phủ bảo hiểm xã hội toàn dân.

Có thể bạn quan tâm

Các tổ bầu cử trên địa bàn phường Hoàn Kiếm hoàn tất việc trang trí khu vực bỏ phiếu, bảo đảm trang nghiêm, đúng quy định. (Ảnh ĐẠI LONG)

Ngành bảo hiểm xã hội nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân trước ngày bầu cử

Các đơn vị trực thuộc, bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, nâng cao chất lượng phục vụ người tham gia và thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Hoạt động nghiệp vụ tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số (Bảo hiểm xã hội Việt Nam).

Chỉ số hài lòng với phục vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội năm 2025 tăng hơn 2%

Chỉ số hài lòng chung của tổ chức, cá nhân đối với sự phục vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội năm 2025 đạt 89,50%, tăng 2,03% so với năm 2024. Con số này cho thấy sự cải thiện về chất lượng phục vụ của hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng như phản ánh hiệu quả của công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số.

Lao động tại Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2. (Ảnh minh họa nhandan.vn)

Sổ bảo hiểm xã hội điện tử đủ thông tin như bản giấy, tích hợp tài khoản VNelD mức độ 2

Sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử được tạo lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm theo mã số bảo hiểm xã hội duy nhất. Sổ được lưu trữ, cập nhật thường xuyên tại kho quản lý dữ liệu điện tử của người tham gia và được tích hợp với tài khoản VNelD mức độ 2, tài khoản VssID, chứa thông tin đầy đủ như sổ bảo hiểm xã hội bản giấy.

Sản xuất các sản phẩm dệt nhuộm tại Công ty TNHH Dệt nhuộm Jasan Việt Nam tại Khu công nghiệp Phố Nối B, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh minh họa ÐĂNG DUY)

Đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách hành chính về bảo hiểm xã hội trong năm 2026

Kế hoạch cải cách hành chính năm 2026 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu cải cách hành chính phải xuất phát từ lợi ích của người dân, doanh nghiệp; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo đánh giá chất lượng phục vụ của hệ thống bảo hiểm xã hội.

Chụp X-quang tại Bệnh viện Bạch Mai.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam phản hồi về việc giám định và thanh toán dịch vụ kỹ thuật hình ảnh

Việc hiểu hoặc áp dụng quy định theo hướng yêu cầu bác sĩ, kỹ thuật viên “chờ đủ thời gian” mới tiếp tục thực hiện ca dịch vụ kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trong khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế chưa phù hợp bản chất của hướng dẫn y tế chuyên môn. Điều này có thể ảnh hưởng đến thời gian, quyền lợi của người bệnh bảo hiểm y tế.