Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.
Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Trong truyền thuyết dân gian của người S'tiêng, họ coi mình do các vị thần sinh ra. Văn hóa S’tiêng vì thế vẫn bền bỉ trong huyết quản của họ. Trong các báo cáo về di sản của người S’tiêng của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Phước cũ, người S’tiêng vẫn thực hành và truyền dạy nghề truyền thống đều đặn.

Về Đồng Nai với người S’tiêng, vẫn cảm thấy không gian trong veo của núi rừng thời “đuốc lồ ô bập bùng ánh lửa”, như vẫn có tiếng sột soạt trên tà áo thổ cẩm của nàng Lươm Koon Gơôr trốn trong khung dệt, tiếng chày giã gạo nhịp nhàng và âm thanh cồng chiêng đâu đó...

Kỳ 1: Hoa văn ký ức

“Không ai có thể làm thay và giữ gìn văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc mình. Chính người mình, dân tộc mình phải gìn giữ giá trị văn hóa đó”, Điểu Xia, con gái của “huyền thoại căn cứ Nửa Lon” - già làng Điểu Lên, tâm sự.

Gặp ở Bom Bo

Điểu Xia là con gái của già làng Điểu Lên. Chuyện già làng Điểu Lên miệt mài nhiều năm đòi cái tên Bom Bo về lại đúng sóc Bom Bo (giờ là xã Bom Bo, TP Đồng Nai) qua đã lâu, nhưng sự bền bỉ của cụ Điểu Lên ngày nào, là minh chứng rõ rệt cho tinh thần không ngại khó của người S’tiêng.

Cụ Điểu Lên giờ đã cao tuổi, không còn nhiều sức để kể chuyện buôn làng nữa. Nhưng Điểu Xia còn trẻ, là cán bộ xã, da bánh mật, người chắc nịch, mang dáng vẻ của những nàng Điểu Nhíp trong truyền thuyết. Bây giờ Điểu Xia, sau nhiều năm nghiên cứu, đã tự tin kể chuyện văn hóa S’tiêng thay cho cha.

Nhà Điểu Xia nằm ngay gần Trung tâm di tích Bom Bo. Trong nhà lỉnh kỉnh vò rượu cần, chai lọ, những mảnh vải dệt nhiều màu sắc, cả những chiếc gùi của người S’tiêng. Lâu lâu, nhà Xia lại thành điểm hẹn cho những ai muốn dệt vải, nấu rượu, đan gùi. Người ta đến gặp Xia để tìm đơn hàng, tìm ý tưởng cho các sản phẩm, tìm cả không gian để bàn bạc, trao đổi.

Nhà Điểu Xia là hộ đầu tiên ở Bom Bo phát triển rượu cần của người S’tiêng thành sản phẩm thương mại, lấy tên Rượu cần Điểu Lên. Qua nhiều năm, quy mô sản xuất đã ổn định, nhiều thành viên khác trong họ cũng tham gia. Rượu cần của gia đình Xia làm quanh năm. Khí hậu Bình Phước nóng ẩm về mùa mưa, nhưng lại mát lạnh về mùa đông. Đó là điều kiện lý tưởng để những loài thực vật làm nguyên liệu cho men rượu phát triển. Người S’tiêng từ bao đời nay đã sử dụng những loại cây rừng để làm nên thứ rượu với mùi vị đặc trưng. “Rượu ủ sáu tháng là ngon, nhưng ủ hơn một năm là vị thuốc”, Xia giải thích. Nhưng như Xia nói, nhà chẳng mấy khi có bình rượu nào để được một năm, bởi làm bao nhiêu là có khách đến mua cả.

Ở tuổi 57, nghệ nhân Thị Châm, ấp 7, xã Tân Hưng vẫn giữ thói quen dệt vải mỗi khi rảnh rỗi. Bà bảo: “Ngày xưa mẹ nấu nướng, dệt vải, mình bắt chước rồi làm theo. Dệt lâu lắm, một tuần, hai tuần mới xong một tấm. Một tấm dệt khoảng 300 nghìn đồng, con cháu có bán qua mạng nhưng ít người mua”. Trong ký ức của bà, chiếc khung dệt lưu giữ cả hành trình đầy nhọc nhằn từ khi còn nhỏ sống với gia đình, cuộc sống dựa vào rừng, rẫy. Bà nhớ lại: “Hồi xưa làm lúa thu không được bao nhiêu, chỉ hai ba bao, phải lấy lúa non ăn, khổ cực lắm. Tôi nhớ những ngày lên rừng hái măng bán đổi lấy 2-3 kg gạo, mai lại đi kiếm nữa”.

Bà Châm và chồng là ông Điểu Ngoa lấy nhau từ năm 1987, đám cưới của hai người có tín vật định tình là tấm vải do bà tự tay dệt. Nhớ lại tục bắt rể và lời thề bằng tiếng mẹ đẻ ngày lấy ông, bà kể: “Nhà tôi theo tục bắt rể. Lúc ấy có biết nói gì đâu. Chỉ biết người già dặn: Slanh chầng sai kna, nghĩa là thương nhau lấy nhau”. Giao lễ ngắn gọn nhưng sợi dây tình cảm gắn kết hai người từ năm 1987 đến khi ông Điểu Ngoa mất vào năm ngoái. Bà Châm rơm rớm nhớ lại ngày “Slanh chầng sai kna”. Từ ngày ông mất, chiếc khung dệt lại càng gắn bó. Bây giờ, kinh tế gia đình đã ổn định hơn nhờ canh tác cây cao su làm kinh tế trên mấy sào đất được phân. Con cái đã lớn, người đi làm công ty, người đi nghĩa vụ quân sự, bà vẫn không thể quên khung dệt.

Cũng mang theo những ký ức, nghệ nhân Điểu Lon A (xã Tân Hưng, sinh năm 1950) lại nhớ về một vùng rừng rậm có cả hổ, beo và về dòng suối Đắk Lóc sạch trong. Thời xưa, cây lồ ô và các loại dây rừng còn nhiều, ông thường xuyên vào rừng kiếm nguyên liệu về đan gùi. Gùi của người S’tiêng chia thành hai loại theo kích thước và công dụng mà đồng bào gọi là pan ệ (gùi nhỏ) và pan tưng (gùi lớn). Điểu Lon A có kỹ thuật nhuộm sườn gùi bằng sơn đen và đỏ để tạo màu sắc rực rỡ, kết hợp màu sắc vốn có của cây rừng khiến nhiều chiếc pan tưng, pan ệ của ông được nhiều người mua sưu tầm hoặc đưa đi trưng bày ở bảo tàng. Để hoàn thành một chiếc gùi nhỏ, ông phải làm hai ngày, còn gùi lớn mất khoảng bốn ngày: “Cái này làm ít thôi, nếu cứ đều tay hai ngày là xong. Ngày xưa ông già dạy tôi làm. Bây giờ, muốn dạy mấy đứa trẻ làm mà chúng làm biếng không”, ông Điểu Lon A tâm sự. Mấy đứa con của ông ăn học đầy đủ, giờ làm tỉnh, làm xã, chẳng đứa nào mặn mà với đan gùi.

52.jpg
Đan gùi là nghề được truyền cho người đàn ông trong nhà theo văn hoá S'tiêng.

Để con cháu biết

Người S’tiêng ở Bình Phước cũ còn lưu giữ được nhiều kỹ thuật truyền thống rất đặc trưng. “Người cha sẽ chịu trách nhiệm truyền lại nghề rèn và nghề đan gùi cho con trai, còn người mẹ truyền nghề dệt thổ cẩm và nghề làm rượu cần cho con gái”, Điểu Xia, xã Bom Bo, giải thích. Không còn nhiều không gian rộng lớn, mỗi người tìm cách giữ lửa trong mỗi ngôi nhà. Khi không phải làm cao su hay bận nương rẫy, bà Thị Châm vẫn mở khung ra dệt: “Làm rẫy xong về dệt một lúc. Chừng một tuần mới xong một tấm”. Đây là khung dệt mẹ bà để lại, bà Châm trân trọng món thừa kế. Di sản ấy quý ngang con trâu.

Nghệ nhân Thị Hia, xã Tân Hưng cũng nói bà đã dệt gần 50 năm nay: “Mình làm để có cái cho con cháu nó nhớ”. Cứ mỗi khi rảnh rỗi, những người phụ nữ S'tiêng lại miệt mài từng sợi chỉ. Cũng ở Tân Hưng, nghệ nhân Thị Chanh vẫn làm rượu cần. Thường chọn lựa nguyên liệu kỹ lưỡng, bà bảo cái buồn là nhiều người mang mác rượu cần S’tiêng ra khoe mà làm không đúng, uống vào là biết ngay. Vò rượu cần làm sao để uống tới cuối vẫn còn say, ấy là cách mà người S'tiêng như bà Chanh cần mẫn lưu giữ. Bà bảo mình làm cũng chẳng phải để bán. Một vò rượu vài trăm ngàn, trong khi cái công kiếm vỏ cây, chuẩn bị men cũng mất bao nhiêu tháng. “Để đừng mất phong tục người S’tiêng, để con cháu đừng có quên”, chỉ có vậy.

Điểu Xia được xem như cánh chim đầu đàn của thế hệ sau chiến tranh, đang nỗ lực giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. “Tấm thổ cẩm truyền thống hội tụ văn hóa của người S’tiêng trên đó”, Điểu Thị Xia nhấn mạnh. Có hình bậc thang của những thửa ruộng, hình những hạt giống trên nương, hình con cuốn chiếu ở những mái nhà dài. Màu sắc của tấm vải dệt là những màu đến từ thiên nhiên. Màu trắng là chỉ nhuộm từ nước vo gạo, màu đỏ từ cây Tmri-on. Xia tự tin vào năng lực sản xuất của cộng đồng mình. Cô cho biết, nếu giải quyết được bài toán đầu ra, cô có thể kêu gọi hơn 100 chị em dệt thổ cẩm, đáp ứng những đơn hàng lớn. “Ở đây nhiều chị em vẫn giữ được nghề, chỉ thiếu đầu ra thôi”, Xia băn khoăn.

Xưa 10 năm, già làng Điểu Lên vác đơn kiến nghị trả lại tên Bom Bo, với tâm niệm rằng nếu chỉ còn thôn 1 hay tên nào đó, thế hệ con cháu sinh ra sau này sẽ dần lãng quên truyền thống, không biết đâu là nơi cha ông chúng từng thức trắng đêm dưới ánh đuốc lồ ô giã gạo nuôi quân. Còn bây giờ, ở Bù Đăng (cũ), có một thế hệ cả già lẫn trẻ, cũng vì để những tinh hoa từ những vị thần không mai một, đang lặng lẽ nối dài truyền thống, giữ văn hóa S’tiêng trong mỗi căn nhà.

Già làng Điểu Lên (sinh năm 1945) là một trong những huyền thoại sống của đồng bào S'tiêng tại sóc Bom Bo. Ông tham gia cách mạng từ năm 15 tuổi, nhiều năm chiến đấu bảo vệ căn cứ Nửa Lon và sóc Bom Bo. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông đã tham gia gần 50 trận đánh lớn nhỏ. Ông đã 3 lần được phong tặng danh hiệu "Dũng sĩ", được Nhà nước trao tặng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng nhất và Huân chương Quyết thắng hạng nhất.

Năm 1998, do thay đổi hành chính, địa bàn cư trú gốc của sóc Bom Bo bị đổi tên thành Thôn 1. Suốt 10 năm, già làng Điểu Lên cùng bà con Bom Bo đã kiến nghị lên các cấp để đổi lại tên cũ. Đến cuối năm 2012, chính quyền huyện Bù Đăng chính thức công bố quyết định đổi tên Thôn 1 trở lại thành thôn Bom Bo. Hiện nơi này thuộc xã Bom Bo, TP Đồng Nai.

(Còn nữa)