1. “Trong suốt 25 năm qua, nhiếp ảnh đương đại Việt Nam đã trải qua thay đổi lớn. Mối quan tâm về nhiếp ảnh nghệ thuật lẫn nhiếp ảnh thương mại giờ không còn giới hạn ở vài cá nhân. Những cơ hội đi thăm thú và học hỏi là động lực lớn thúc đẩy sáng tạo trong nhiếp ảnh của một thế hệ trẻ không chịu hệ lụy từ chiến tranh và ký ức chiến tranh”- tác giả người Mỹ Abby Robinson đã nhận định nhiếp ảnh Việt Nam đang bước vào thời kỳ đầy hứa hẹn như vậy trong bài viết đăng trên một tạp chí nghệ thuật quốc tế, năm 2006.
Abby Robinson là một trong số những học giả nước ngoài đầu tiên viết về “nhiếp ảnh mới của Việt Nam”, cụ thể là một nhóm nhiếp ảnh gia tại Thành phố Hồ Chí Minh thuộc thế hệ 7x với những bộ ảnh nhen nhóm tính ý niệm, không hướng đến vẻ đẹp kiểu “bưu thiếp” mà đưa ra góc nhìn cá nhân. Dưới con mắt người ngoài cuộc, bà đưa ra phân tích hàm súc về sự phân nhánh giữa thực hành “đương đại” và lối sáng tác mang tính biểu trưng, ca ngợi điển hình của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam. Có lẽ bởi vậy, thời điểm đó, bài viết đã được dịch sang tiếng Việt và lan tỏa trên nhiều diễn đàn trực tuyến. Nhưng đã gần hai thập niên trôi qua, những gương mặt được đề cập trong bài viết ấy giờ đã ở ngưỡng trung niên; một số người tập trung hơn cho nhiếp ảnh thương mại, số còn lại hầu như hoàn toàn “vô hình” trong không gian sinh hoạt nhiếp ảnh chuyên nghiệp vốn nhỏ hẹp, ở Việt Nam.
Cho đến nay ở Việt Nam, nhiếp ảnh mà cụ thể ở đây là những sáng tác độc lập - được coi là tác phẩm nghệ thuật, vẫn gần như vắng bóng tại bảo tàng công lập lẫn phòng trưng bày tư nhân. Đối với thế hệ sau, ảnh của những người đi trước tồn tại như “giai thoại đô thị”, hầu như chỉ được nghe phong thanh mà khó thấy tận mắt. Trước khoảng không mơ hồ của quá khứ, tôi không biết tựa vào đâu để giải đáp những băn khoăn về hiện tại và tương lai. Nghe có vẻ như một ưu tư triết lý xa vời, nhưng luôn cần điểm tham chiếu để ta có thể định vị được mình.
Tác giả sẽ trưng và khán giả sẽ xem nhiếp ảnh ở đâu? Có những nền tảng nào để người thực hành học hỏi, giao lưu, xây dựng sự nghiệp và sống với nghề? Những câu hỏi hẳn không phải lần đầu được nêu ra, nhưng không biết gửi tới ai và liệu bao giờ, mới có câu trả lời thấu đáo.
Nhiếp ảnh vẫn xuất hiện lẻ tẻ, tản mát, tự phát, một hình thái “du kích” đặc trưng ở những bối cảnh nghệ thuật với nguồn lực hạn chế. Thiếu vắng một địa chỉ chính thức, người quan tâm tìm hiểu thông qua đối thoại trực tiếp với nhiếp ảnh gia bên ly cà-phê hay bia hơi vỉa hè, nơi những khác biệt về tuổi tác và quan điểm được xuề xòa gạt sang bên. Mạng xã hội cũng là một không gian tương đối tự do, nơi tác giả tùy ý đăng tải và khán giả có thể nán lại vài giây xem một bức hình trước khi lướt tiếp. Cách trình bày chớp nhoáng và có phần suồng sã nhưng lại ăn khớp với nhịp sống, thói quen và điều kiện tại địa phương. Trước khi tính đường khỏa lấp, có lẽ ta cần nán lại nhìn sâu vào những khoảng trống trong nhiếp ảnh.
Ta có thể liệt kê những gì còn thiếu: Những tác giả lớn và tác phẩm có sức thuyết phục; những mắt xích quan trọng như cây viết, biên tập viên, giám tuyển; cơ chế hỗ trợ sáng tác; thiếu diễn đàn phản biện, hay một thị trường dành cho bản vật lý và sách ảnh. Dẫu vậy, lời giải cho những khoảng trống trong cơ sở hạ tầng không đơn giản là tham khảo rồi áp dụng mô hình sẵn có ở nước ngoài vốn được hình thành và vận hành dựa vào nền tảng phát triển đời sống văn hóa/thị trường tiêu thụ sản phẩm văn hóa khác biệt với Việt Nam. Giữa nhiều rối ren, tôi thoáng chút vững tin khi vẫn nhận thấy có người làm nghề tự quyết, chủ động thực hiện những gì thiết yếu cho thực hành chuyên nghiệp, bao gồm việc ghi chép những chuyển động trong bối cảnh địa phương và gây dựng cộng đồng khán giả. Dẫu biết đây là hành trình không tránh khỏi vấp váp và chẳng có gì bảo đảm cho sự sống còn.
2. Vậy nhiếp ảnh đương đại rốt cuộc là gì? Thay vì một lời giải đóng khung kèm thí dụ những bậc thầy kinh điển, tôi mạn phép đưa ra định nghĩa của riêng mình: Nhiếp ảnh đương đại, bất kể hình thức, là mọi quan sát phản hồi tới đời sống đương thời. Vì lẽ đó, nó cũng bao hàm cả những gì đã bị lãng quên hay không còn hợp mốt.
Nhiếp ảnh đương đại Việt Nam, với tôi, là thầy Nguyễn Xuân Khánh, người ở tuổi 80 và đang nung nấu kế hoạch cho cuốn sách ảnh đầu tay. Là nhiếp ảnh gia Đỗ Anh Tuấn với đôi mắt đã hỏng nhưng vẫn mô tả được từng chi tiết trong ảnh đã chụp bằng vốn từ sống động. Là nhiều bức hình thời chiến của cố nhiếp ảnh gia Võ An Khánh tiếp tục gọi mời những diễn giải mới khi xuất hiện trong bối cảnh hôm nay. Là những nghệ sĩ gốc Việt tái tạo ký ức trong và thông qua hình ảnh, như An-My Lê, Lê Quang Đỉnh (Dinh Q. Le), Pipo Nguyễn-Duy. Bên cạnh vài tên tuổi như vậy là rất nhiều cá nhân khác vẫn âm thầm quan sát, thực hành và suy ngẫm cùng nhiếp ảnh qua tháng năm.
Tác phẩm nhiếp ảnh đương đại có thể được trình hiện qua bản in trên giấy mỹ thuật lồng khung gỗ sồi, một chế tác độc bản uy nghiêm trong không gian triển lãm theo tiêu chuẩn quốc tế, nhưng cũng có thể đang là tập dữ liệu trong lưu trữ số hóa, đợi tới khi có ai đó đủ quan tâm để cho nó một khuôn dạng vật lý. Tuy ngày nay khó có thể tạo nên làn sóng gây ảnh hưởng/hiệu ứng xã hội mạnh mẽ, nhiếp ảnh vẫn sống, bền bỉ như những mạch ngầm, đi cùng nhu cầu ghi tư liệu, kết nối và song hành với đời sống luôn chuyển mình.