1 Thuở trước ở xứ ta, cũng mới trên trăm năm nay thôi, văn chương là tuyệt đích, là tối thượng cao khiết của sinh hoạt tinh thần. “Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí”, tất thảy những ai đã bước qua Khổng môn đều thấm nhuần tôn chỉ văn chương này. Thứ văn chương ấy, ở giác độ phương thức phổ biến của nó, là để biếu để tặng, để xướng để họa với bạn hữu, và rồi ghi lại thành văn tập thi tập lưu truyền cho con cháu trong nhà. Nó không để bán, vì chẳng tiền bạc nào mua được, vả chăng thời ấy cũng nào đã có thị trường để sản phẩm văn chương trở thành thứ có thể cho người ta bán và mua?
Đầu thế kỷ 20, đô thị tư sản ra đời, xuất bản và báo chí phát triển. Một lớp công chúng mới của văn chương hình thành: họ đọc văn chương qua việc mua sách và báo. Một kiểu văn nhân sống bằng việc viết văn bán cho các tòa báo, các nhà xuất bản cũng dần hình thành. Tiêu biểu cho “làn sóng thứ nhất” của kiểu văn nhân này chính là Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Không của nả, không đỗ đạt, ông ấm Hiếu bước chân vào đô thị tư sản chỉ với một thứ lợi khí: tài thơ văn. Không khỏi có những lúc ló ra cái mặc cảm của kẻ biến văn chương thành cần câu cơm (nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng), song nói chung thị trường văn chương đã cho Tản Đà nhiều thứ, và ông biết rõ điều đó: “Trời sinh ra bác Tản Đà/ Quê hương thời có, cửa nhà thời không/ Nửa đời nam, bắc, tây, đông/ Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt ly/ Túi thơ đeo khắp ba kỳ/ Lạ chi rừng biển, thiếu gì gió trăng”. Nhà thơ rong ruổi từ bắc vào nam không phải bằng tiền túi của mình hoặc bằng công vụ phí của nhà nước, mà ông đi bằng cái hầu bao nặng của các mạnh thường quân yêu mến văn chương. Sẽ không thể có chuyện đãi đằng như vậy nếu Tản Đà không sáng tác thơ văn bán trên mặt báo, nhờ sức phổ biến của báo chí mà làm nên một “cơn gió lạ” thổi suốt thi đàn cả nước những năm 1915 - 1930. Nhưng mặt khác, bước vào chợ văn, “ông thần ngông” Tản Đà cũng “được” ngấm đến độ cái khắc nghiệt của nó. Ông giãi bày: “Bao nhiêu củi nước mới thành văn/ Được bán văn ra chết mấy lần/ Ông chủ nhà in in đã đắt/ Lại ông hàng sách mấy mươi phân/ Mười phân gửi bán lấy tiền sau/ Bán hết thu tiền đợi cũng lâu/ Lắm lúc túng tiền đem bán rẻ/ Trừ đầu trừ cuối nghĩ càng đau” (Lo văn ế). Cuối đời, Tản Đà phải sống rồi chết trong cảnh khốn khó, trong một căn nhà nát ở phố Cầu Mới, ấy cũng là kết quả và là sự hiển hiện tê tái của một tác giả đã lỗi thời, một thứ sản phẩm văn chương đã “hết đát”, không hợp khẩu vị thị trường đương thời, bán không ai mua! Sau Tản Đà, cả một thế hệ văn thi sĩ Việt Nam dấn thân vào thị trường văn chương. Người thành kẻ bại, người ung dung thư nhàn kẻ đầu tắt mặt tối, và ở sự khác nhau trong số phận của mỗi tác giả ta đều có thể nhận ra, không hoàn toàn là sự khác nhau về tài năng, mà chủ yếu là sự khác nhau về cách các tác giả ấy “thân quen” đến đâu, làm chủ đến đâu những điều kiện của thị trường. Ung dung thư nhàn, không phải lo lắng nhiều lắm về tiền bạc như kịch tác gia Vũ Đình Long - ông chủ nhà xuất bản Tân Dân, hay như những người chủ trương báo Phong Hóa, Ngày Nay (Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo) vốn chỉ là thiểu số: họ biết cách kinh doanh với mặt hàng văn chương. Đa số còn lại đều sống khá chật vật giữa chợ văn. Say đắm hết mực với những thứ ái tình mây bay gió thoảng như Xuân Diệu mà cũng có lúc phải thốt lên: “Nỗi đời cơ cực giơ nanh vuốt/ Cơm áo không đùa với khách thơ”. Trần Huyền Trân viết những câu thơ như chan hòa huyết lệ: “Đã có lần khói bếp không lên/ Vợ ngược con xuôi túi hết tiền/ Chồng gục cả lòng trên giấy mực/ Đen ngòm mặt đất tối như đêm/ Trang lại trang máu lẫn mồ hôi/ Từng dòng tay bút đã buông xuôi/ Giữa khi ông chủ buôn văn ấy/ Tiệc rượu lầu cao ngả ngốn cười” (Đời một nhà văn). Đó là các nhà thơ, nhưng những người viết văn xuôi cũng chẳng khác là mấy. Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Tô Hoài, Lê Văn Trương v.v. viết miệt mài, xuất hiện từ số báo này sang số báo khác, và không ít lần họ đã phải lên tiếng than vãn về cái cảnh thân trâu cày trên cánh đồng chữ nghĩa, cứ hễ ngưng bút là túi rỗng bụng đói! Nhìn một cách “có lập trường”, ai đó sẽ bảo rằng đó là những tiếng nói tố cáo sự bất công xã hội, là lời lên án thói bóc lột trong làng văn làng báo đương thời. Nhưng nhìn theo cách khác, lại có thể mạnh dạn cho rằng chính những tiếng nói ấy đã làm hé lộ diện mạo của một đời sống văn chương mang tính chuyên nghiệp, chuyên nghiệp theo nghĩa: sáng tác văn chương là một nghề để sống, và người làm nghề thì chỉ có thể sống bằng cách đeo bám lấy nghề.
2 Từ sau năm 1945 cho đến trước thời đổi mới, thị trường văn chương như vậy đã bị biến dạng đi rất nhiều. Sự sáng tác của nhà văn được hướng dẫn sát sao, việc in ấn tác phẩm phải theo chỉ tiêu chứ không theo quy luật cung cầu “tự nó”, và bản thân người viết thì phần công chức cũng dày hơn phần văn nhân. Nói chung, suốt ba mươi năm chiến tranh rồi khoảng mười năm sau chiến tranh, tính chất “chợ” của nền văn chương ta khá nhạt. Nhà nước lo việc làm, cơm ăn, áo mặc cho tất cả, nhà văn không phải hì hục viết văn để kiếm sống như lớp người cầm bút thời tiền chiến (cho dẫu cuộc sống của đa phần trong số họ chẳng có gì gọi là dư dả, và cho dẫu vẫn có những người sống khá tốt bằng việc viết văn. Nguyễn Khải chẳng hạn: trong một cuốn tiểu thuyết tự truyện ông cho biết những năm đó ông viết rất khỏe, lại là nhà văn được ưu ái nên sách in ra liên tục với số lượng ấn bản lớn, tiền nhuận bút đủ để gia đình sinh hoạt thoải mái). Sự trở lại với quỹ đạo vận hành bình thường của thị trường văn chương ở ta chỉ diễn ra trong khoảng mười mấy hai mươi năm nay. Dẫu chưa thật rõ nét, nhưng nó đã cho thấy sức chi phối nhất định trên cái viết của nhà văn thời nay. Nó là cái gì vậy? Là những chuyện, nói chung, có thể đánh vào tâm lý hiếu sự, thỏa mãn tính tò mò của độc giả, giúp họ có dịp trải nghiệm những hiện thực mà họ không, hoặc ít có dịp trải nghiệm trong cuộc đời thực tế khá nhạt nhẽo của mình (chuyện tình ái éo le mùi mẫn, chuyện phòng the, chuyện trong thế giới bán phấn buôn hương, chuyện của các mối quan hệ đồng tính... đang trở thành những mặt hàng đắt khách hiện nay). Cái lý cho sự tồn tại của văn chương giải trí là như vậy.
Thực tế, giải trí là nhu cầu thường nhật trong sự tiếp nhận văn chương, nhưng chỉ ở điều kiện tác phẩm có thể đưa ra thị trường, có thể bán và mua, nó mới tạo đất cho văn chương giải trí phát triển mạnh mẽ. Những độc giả khó tính thường nhìn văn chương giải trí như nhìn những đứa con ghẻ, họ coi đó là á văn học, là loại tác phẩm thấp về tư tưởng, nhạt về nghệ thuật, không mang tính nhân văn sâu sắc. Và, điều này mới thật sự quan trọng, họ coi đó là tác động nghịch chiều của thị trường đối với văn chương. Cá nhân người viết bài này không chia sẻ quan niệm như vậy. Hãy thử xem một nhà văn như D. Brao (Dan Brown), tác giả “Mật mã Da Vinci”, “Thiên thần và ác quỷ” v.v. Đó đích thực là văn chương giải trí, song lại hấp dẫn hàng triệu độc giả trên thế giới và mang lại cho nhà văn lợi nhuận rất lớn từ việc bán bản quyền tác phẩm. Có điều, đó là thứ văn chương giải trí được viết ở trình độ siêu việt, hơn đứt thứ văn chương “nghiêm túc” của vô khối văn gia làng nhàng tự cổ chí kim. Bởi thế, vẫn có thể khẳng định rằng thị trường không có lỗi, mà lỗi ở chính người viết, ở tài năng và ý thức làm nghề của anh ta. Viết tác phẩm “nghiêm túc”, tốt lắm. Nhưng viết giải trí cũng dứt khoát phải có nghề. Chỉ nhìn vào việc tác phẩm viết theo những đề tài thời thượng và có được một lượng phát hành lớn mà vội bĩu môi cho đó là “văn chương thị trường”, kém phẩm chất, không có khả năng tồn tại lâu dài, e rằng đó là cái nhìn nếu không quá khắt khe thì cũng đầy ghen tức! Có một con đường khác cho nhà văn, đó là mặc xác thị trường, mặc xác người đọc, người viết đi con đường độc đạo, anh ta chỉ quan tâm đến tư tưởng sáng tạo và quan niệm nghệ thuật của riêng mình. Người đọc hiểu hay không hiểu, thích thú hay khó chịu, đồng tình hay phản đối trước những gì anh ta viết, với anh ta đều vô nghĩa. A. Rốp-be Gri-let (Alain Robbe Grillet), ông trùm của Tiểu thuyết Mới từng bảo: “Nhà văn sẽ là kẻ suy đồi nếu anh ta còn nghĩ tới độc giả khi viết”. Ông đã làm đúng như vậy, kết quả là tiểu thuyết của ông hiện ra trước mắt đa phần độc giả phương Tây như là những văn bản... tối mò. Nhưng nghịch lý ở chỗ, nhờ thế mà ông càng trở nên nổi tiếng, được suy tôn như một trong tác giả hàng đầu của tiểu thuyết hiện đại. Dù chẳng hiểu mấy (và cả không thích nữa) nhưng người ta lờ mờ cảm thấy trong các tác phẩm bí hiểm của ông có- một- cái gì đó- thật sự- có- ý nghĩa. Sự “cảm nhận lờ mờ” ấy, bản thân nó có lẽ cũng đã là một ý nghĩa. Thật hạnh phúc khi một nhà văn tài năng bước vào một thị trường người đọc có trình độ cao!