Nguyện làm người "thắp đèn đom đóm"

Bao đời nay dân vạn đò đôi bờ sông Hương (Thừa Thiên - Huế) vẫn luôn khát chữ. Hơn bốn mươi năm trước, mới ở tuổi đôi mươi, cô gái Bạch Ngọc Hạnh đã cần mẫn và quyết liệt "lôi kéo" đám trẻ vạn đò thất học tìm đến cái chữ. Cũng chừng ấy thời gian, trái tim đôn hậu ấy đã khơi lên giấc mơ "đèn đom đóm" cho không biết bao nhiêu thế hệ con em vạn đò.

Những đồng "lương" ỏn sót nhận được, cô giáo Hạnh đều quy cả thành sách vở, giấy mực, thành cả áo mưa cho bọn trẻ. Với bọn trẻ, một chiếc áo mưa được nhận cũng đã là niềm hân hoan rất lớn.
Những đồng "lương" ỏn sót nhận được, cô giáo Hạnh đều quy cả thành sách vở, giấy mực, thành cả áo mưa cho bọn trẻ. Với bọn trẻ, một chiếc áo mưa được nhận cũng đã là niềm hân hoan rất lớn.

Lớp học đặc biệt

Trường Tiểu học số 1 - cơ sở 2 Kim Long (KV6, phường Kim Long, TP Huế) có một lớp học vô cùng đặc biệt, bởi gần như không có nghỉ hè. Chỉ mỗi kỳ Festival Huế là cô giáo Hạnh nghỉ dạy độ mươi ngày, để bọn trẻ tỏa ra góc đường, hè phố kiếm từng đồng bạc lẻ. Giờ học thường từ 19 đến 21 giờ, hôm nào lũ trẻ muốn ôn bài thì lại kéo thêm khoảng tiếng đồng hồ. Phòng học gói cả năm lớp bậc tiểu học. Mỗi lớp một nhóm, có nhóm trưởng để quản lý các bạn trong nhóm.

Em Phạm Thị Sáng, 11 tuổi, đang học lớp năm, bẽn lẽn: "Ban ngày con ở nhà giữ em, làm việc nhà giúp ba mẹ, tối con đến cô học. Chỉ khi nào con làm sai cô mới nhắc, còn cô để con tự làm bài". Em Phan Thị Thanh Thủy, có ba chị em cùng theo "lớp cô Hạnh", kể: "Mẹ con làm nhang, ba con đạp xích-lô, nhà con có sáu anh chị em lận". Nhà em Phan Thị Thảo cũng có tới năm anh chị em. Thảo hồn nhiên: "Ba con đi đạp xích-lô, mẹ con ở nhà giữ em. Hằng ngày ba mang tiền về cho mẹ mua thức ăn, nhưng ba con hay uống rượu lắm. Con học ở đây được năm năm rồi, nhưng mới đang lớp 3 thôi. Đi học, con vui lắm, con thích học môn toán nhất, cô Hạnh chưa bao giờ mắng con cả...". Bà giáo già ngồi một góc, trìu mến nghe từng đứa trẻ kể về cuộc sống của chúng. Chưa bao giờ bà quở mắng bọn trẻ, cũng bởi bà biết rõ hơn ai hết, những đứa trẻ ấy khó khăn, thiếu thốn đến nhường nào.

Nhọc nhằn xóa mù ở Bến Me

Hơn bốn mươi năm trước, đang học cấp ba thì cuộc sống gặp nhiều biến động nên việc học của cô gái Bạch Ngọc Hạnh phải dừng lại. Cô ở nhà phụ gia đình bán hàng và tham gia công tác thanh niên, vận động xóa mù chữ cho dân. Thuở ấy, cô Hạnh cứ bước chân ra khỏi nhà là thấy đám trẻ con nheo nhóc chạy từ dưới Bến Me (phường Phú Thuận) lên bờ. Chơi với chúng, hỏi han chúng, mới biết chẳng đứa nào biết đọc, biết viết. "Hồi đó dân vạn đò còn kiếm được, nhưng phải cái sinh đẻ vô tội vạ, các con thì không bao giờ được đi học, cũng không có giấy khai sinh" - Cô giáo Hạnh nhớ lại.

"không thể để bọn trẻ mù chữ được" - suy nghĩ đó cứ trở đi trở lại. Cô bắt đầu đi vận động để các em đến lớp học, nhưng "vận động các em đi học khó lắm, lúc đầu dạy chơi dạy hát thì các em nghe, còn dạy học thì các em không chịu. Phải mất hai năm trời vừa chơi đùa, vừa thuyết phục, vừa "dụ dỗ", lôi kéo, lớp học đầu tiên dành cho con em vạn đò Bến Me mới được mở. Địa điểm bấy giờ phải đi "mượn" của HTX". Năm năm duy trì lớp học, ngoảnh đi ngoảnh lại, cô Hạnh cũng đã ba mươi tuổi, cô lập gia đình, dừng cái việc "ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng" lại. Cô nghỉ dạy được hơn một năm thì có người đàn ông tay vác mái chèo, tay cắp rổ cá, theo sau là "một đàn" trẻ con lít nhít kéo đến nhà cô. Người đàn ông đen sạm ấy nói như van nài: "O phải dạy chữ cho tụi nhỏ nhà tui chứ, không lẽ lại để chúng thất học". Đám trẻ thì nheo nhóc: "O dạy chữ cho tụi con đi!". Câu nói và những ánh nhìn con trẻ một lần nữa lại khiến cô mềm lòng. Lớp học miễn phí lại được mở, lũ trẻ mù chữ xóm vạn đò có niềm vui với con chữ.

Vừa là cộng tác viên dân số, vừa là ủy viên BCH Hội Phụ nữ phường Phú Thuận, vừa chăm sóc con cái, vừa là cô giáo của lũ trẻ xóm vạn đò. Một ngày của cô Hạnh dường như chỉ có giấc ngủ tranh thủ ban đêm mới tạm được gọi là nghỉ ngơi. Tinh mơ đã thức dậy chở rau về chợ Đông Ba bỏ mối, đầu giờ sáng đến UBND phường, khoảng 10 giờ về nhà bắc cơm lên rồi ngồi vào bàn máy may; chiều cắt rau để sáng mai lại đưa về chợ Đông Ba, 18 giờ đến lớp, 21 giờ về nhà... Năm 1995, Bến Me giải tỏa để phục vụ cho trùng tu, tôn tạo di tích. Gia đình cô tái định cư ở phường Kim Long. Nhà lá đơn sơ vừa mới dựng lên, bà con vạn đò (nay cũng đã tái định cư) lại gõ cửa, lại trăm sự học của bọn trẻ nhờ cậy cả vào cô.

"Sống là cho đi..."

Tôi đã rất chân thành chia sẻ với cô giáo Hạnh, rằng ở đời vẫn còn nhiều tấm lòng nhân ái, nhưng sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng hành động ròng rã quá nửa đời người như cô thì mấy ai làm được! Cô Hạnh cười buồn, cũng nhiều người đến với lớp học tình thương này, giáo viên có, thanh niên tình nguyện có, nhưng không ai gắn bó với các em được quá một tháng. Cô bảo, không phải họ không có tấm lòng, nhưng giữa đời sống này, họ vẫn phải lo "cơm áo gạo tiền", chẳng ai có thể dạy không công cho bọn trẻ như cô được. Bản thân cô, có đôi năm được một tổ chức phi chính phủ trả lương mỗi tháng 500 đến 600 nghìn đồng, rồi mãi sau này, cứ ba học sinh thi qua được mức lớp 1, 2, 3 thì cô được 25 nghìn đồng mỗi em. Nhưng số tiền đó, cô quy cả thành sách vở, đồ dùng học tập, thành những chiếc áo mưa cho bọn trẻ. Còn ở Hội Phụ nữ thì chỉ có chủ tịch với phó chủ tịch mới có lương, cộng tác viên dân số thì... "Dì tự nguyện làm không công mà" - cô giáo Hạnh cười hồn hậu.

Sắp bước sang tuổi 60, cô giáo Hạnh đã làm giấy khai sinh, đã xóa mù chữ, đã lăn lóc đi xin học nghề cho không biết bao nhiêu lứa con em xóm vạn đò. Ngày 20-11, có những năm, mấy chục đứa trẻ chung một bông hoa nhựa thay nhau lên tặng cô giáo, đứa nào cũng ríu rít, cũng lấp lánh ánh nhìn. Cô bảo, sự hồn nhiên và tình cảm của lũ trẻ là điều vô giá, chẳng có gì đổi được. Bọn trẻ thì ham học, cứ mồng 2, mồng 3 Tết là đã thập thò ở cổng nhà cô mà tha thiết: "Cô ơi, cô cho bọn con đi học sớm đi, ở nhà nỏ có chi vui cả...". Không biết tự bao giờ, cô đã thầm nhủ với lòng mình, còn sức là cô còn khơi lên giấc mơ "đèn đom đóm" trong những phận người bé mọn ở cái xóm vạn đò chênh vênh ấy.

Cô giáo Hạnh vẫn ngày ngày đứng lớp!