Khi các chàng trai lần đầu tìm đến, trước hết phải dừng lại ở cổng để hát trả lời những câu hỏi của các cô gái, giới thiệu về mình... trót lọt mới được vào sân, nếu không thì đành phải quay về. Những câu hát phường vải thường có kết cấu theo thể lục bát, nghe hỏi xong thì phải trả lời ngay. Ðiều này đòi hỏi các cô gái, chàng trai phải ứng tác nhanh, không chỉ nhanh trí, mà phải biết vận dụng thể thơ lục bát thành thạo. Nhưng nếu chỉ có các cô gái, chàng trai hát đối đáp thì nhiều khi lâm vào thế bí, bởi các câu hỏi quá hóc búa mà lại đòi hỏi phải trả lời ngay, hơn nữa, phải trả lời dưới dạng thơ lục bát. Thế là người ta nghĩ ra cách giải quyết vấn đề này là ngoài các chàng trai, cô gái hát đối đáp ra, mỗi bên còn mời thêm một số người có tài sáng tác thơ lục bát để mách lời cho phường hát của mình. Các ông đồ nho ở Nghệ Tĩnh trước đây, đặc biệt là các nhà thơ như Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu... thường được các cô gái, chàng trai mời làm 'quân sư' mách lời gỡ bí trong các đêm hát phường vải.
Thời đó ở làng Trường Lưu (Can Lộc) có phường vải rất nổi tiếng, không chỉ vì ở đây có nhiều cô gái đẹp người và hát hay, mà vì có nhiều ông thầy mách lời là các nhà thơ mang họ Nguyễn Huy đã được cả nước biết đến như Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Quýnh, Nguyễn Huy Hổ, Nguyễn Huy Tự,... Mặc dù Nguyễn Du sinh ở Thăng Long, nhưng mỗi lần về quê ở Tiên Ðiền, ông thường sang Trường Lưu để được hát phường vải, không phải với tư cách của người thầy mách lời mà là một chàng trai trong cuộc. Một nguyên nhân nữa khiến Nguyễn Du thích lui tới Trường Lưu hát phường vải là vì tài thơ của họ Nguyễn Huy (Trường Lưu) có thể sánh với tài thơ của họ Nguyễn (Tiên Ðiền), nhất là ở thể thơ lục bát. Hơn nữa, Nguyễn Huy Tự, tác giả của truyện thơ Hoa Tiên, là con rể của Nguyễn Khản (anh trai của Nguyễn Du); như vậy, Nguyễn Huy Tự là cháu rể của Nguyễn Du.
Nguyễn Huy Quýnh là chú ruột của Nguyễn Huy Tự có mượn lời các cô gái Trường Lưu làm bài thơ Thác lời gái phường vải để tặng Nguyễn Du, và Nguyễn Du đã viết bài Thác lời trai phường nón đáp lại để nói về tình cảm của mình đối với các cô gái Trường Lưu. Bởi Tiên Ðiền có nghề làm nón, nên trong bài thơ này tác giả có nhắc đến vật liệu làm nón như bó vọt, đống sườn, bẹ móc, nắm dang... và một vài tiếng Nghệ Tĩnh như 'lịp tơi' là nón tơi, 'quệt trầu' là têm trầu,... cùng một số địa danh trên đoạn đường nối Tiên Ðiền - Trường Lưu. Nhân ngày xuân, mời các bạn cùng đọc lại bài thơ này, để có thể hiểu thêm đôi phần Nguyễn Du một thời trai trẻ.
Thác lời trai phường nón
Tiếc thay duyên Tấn phận Tần
Chưa quen đã lạ, chưa gần đã xa
Chưa chi đông đã rạng ra
Ðến giờ hãy giận con gà chết toi
Tím gan cho cái sao mai
Thảo nào vác búa đánh trời cũng nên
Về qua liếc mắt trông miền
Lời oanh, giọng ví chưa yên dằm ngồi
Giữa thềm tàn đuốc còn tươi
Bã trầu chưa quét, nào người tình chung?
Hồng Sơn cao ngất mấy trùng
Ðò Cài mấy trượng thì lòng (*) bấy nhiêu
Làm chi cắc cớ lắm điều
Mới đêm hôm trước lại chiều hôm nay
Khi xa, xa hỡi thế này
Tiếng xa nghe hãy rù rì bên tai
Quê nhà nắng sớm, mưa mai
Ðã buồn giở tới lịp tơi càng buồn
Thờ ơ bó vọt, đống sườn
Ðã nhàm bẹ móc lại hờn nắm dang
Trăng tà chênh chếch bóng vàng
Dừng chân thoạt nhớ đến đàng cửa truông
Thẫn thờ gối chiếc, màn suông
Rối lòng như sợi ai guồng cho xong
Hôm nào chợ Vịnh ra trông
Mồng ba chẳng thấy lại hòng mười ba
Càng trông càng chẳng thấy ra
Cơi trầu quệt đã vài và lần ôi
Tưởng rằng nói thế mà chơi
Song le đã động lòng người lắm thay
Trông trời, trời cách tầng mây
Trông trăng, trăng hẹn đến ngày ba mươi
Vô tình trăng cũng như người
Một ta, ta lại ngậm ngùi chuyện ta.
------------
(*) Ðọc bài thơ này, ta thấy có nhiều câu có hơi thơ của Truyện Kiều. Trong bản của Nguyễn Thạch Giang, hai câu thứ 11 và 12 được in là: 'Hồng Sơn cao ngất mấy trùng - Ðò Cài mấy trượng thì tình bấy nhiêu'. Tôi thấy rằng, theo quan niệm gieo vần trong thơ lục bát của Nguyễn Du (thể hiện qua Truyện Kiều) thì chữ trùng không thể vần với chữ tình được, bởi vậy tôi đã chỉnh thành chữ lòng, vừa giữ được nghĩa, vừa được vần. Phần phán xét dành cho bạn đọc.