Lời khèn vừa đi vừa tỏ

Với tôi, con ngựa và chiếc khèn là hình tượng của người Mông. Từ thủa ấu thơ, tôi mê mải ngắm ngựa ở bãi thả lưng núi. Tôi mê mải ngắm ngựa ở bãi buộc ngựa bên chợ phiên. Và tôi mê mải xem múa khèn. Ngày đó, con trai Mông hiếm người không biết thổi khèn.

Múa Khèn ngày xuân.
Múa Khèn ngày xuân.

Bản Mông nằm giữa đại ngàn. Thuở chưa xa, ngày đêm bản Mông nào cũng xốn xang tiếng khèn, tiếng sáo, tiếng khèn môi, kèn lá hòa quện tiếng rừng. Ngày thường, người Mông đến chơi nhà nhau cũng mang theo nhạc cụ. Người giỏi chơi nhạc cụ nào thì mang theo thứ đó. Mượn tiếng khèn, tiếng sáo thay lời bày tỏ tâm tình. Đó cũng là dịp để trao truyền cho nhau những bài khèn, bài sáo hay. Cũng có khi bày cho nhau cách cải tiến, xử lý nguyên liệu chế tác từng loại nhạc cụ.

Vui thổi khèn, buồn cũng thổi khèn. Bài khèn buồn phong phú vô cùng. Nghèo khổ bị người ta coi thường, tỏ tình nhưng bị từ chối, người yêu bỏ, người yêu đi lấy chồng, mồ côi. Riêng mồ côi cũng có ba bài khèn: mồ côi cha, mồ côi mẹ, mồ côi cả cha và mẹ. Những bài khèn buồn thì chỉ thổi trong tư thế ngồi hoặc đứng dựa một mình bên gốc cây, tảng đá. Những bài khèn này buồn da diết. Người cùng cảnh, người dễ xúc động mà nghe, ai cũng khóc. Những bài khèn vui thì vô kể. Từ nền những bài gốc của tổ tiên truyền lại, tùy cảnh huống và tài ngẫu hứng của người thổi mà sáng tạo thêm. Môi trường để thể hiện những bài khèn vui của người Mông xưa thường ở các cuộc thi vào dịp Tết và lễ hội Gầu Tào. Trong cuộc thi này, những bài khèn được thể hiện cùng với múa. Dù múa với động tác, địa hình đơn giản hay phức tạp thì tiếng khèn cũng không được dứt. Đơn giản là múa xoay người bốn phía tung chân, ngồi một chân trên mặt đất. Phức tạp là múa khèn lăn trên mặt đất, bật chân đứng dậy; nằm vặn mình, lăn người trườn chui qua đoạn vồng lên của rễ cây hay thanh xà chỉ cao hơn mặt đất chừng 40 - 50 cm; múa khèn trên ba đầu cọc; múa khèn trên dây... Thực hiện được những bài khèn phức tạp này phải là bậc thầy khèn. Trong cộng đồng người Mông xưa, thầy khèn luôn là người được nể trọng.

Không phải là tất cả nhưng việc chế tác và sử dụng nhạc cụ của người Mông nói chung và khèn nói riêng thường theo hình thức cha truyền con nối hoặc ông truyền cho cháu. Con trai Mông, mười tuổi được ông hoặc cha làm cho chiếc khèn bé vừa cỡ tay và dạy thổi khèn. Ngày nhỏ, tôi đã ngồi bên đám nương vừa cày xong, nhìn những ông bố người Mông dạy cho mấy đứa con trai chừng từ mười đến mười lăm tuổi thổi khèn và múa khèn. Họ dạy thổi khèn, múa khèn cho đám trẻ cả khi ở bãi thả trâu. Sống cùng nhau dưới bóng đại ngàn. Tôi hiểu, chiếc khèn, tiếng khèn, điệu múa khèn đã làm nên tính cách phóng khoáng và hào sảng của người đàn ông Mông. Tôi nhớ mãi hình ảnh một chàng trai Mông vừa đi vừa thổi khèn trên con đường mòn. Chàng ta chẳng để ý có tôi đứng bên mép đường. Mắt nhìn đường, bước chân và hồn vía anh ta thì ở lời khèn. Chắc chắn, chàng vừa được nhận lời yêu hay đang đến chỗ người yêu. Nghe tiếng khèn là biết.

Nếu như với các dân tộc khác, thanh âm của nhạc cụ là nhạc thì âm thanh của khèn Mông lại chuyển tải cả lời. Nghe tiếng khèn, người Mông biết nội dung của bài khèn đó là gì. Khèn tình thì mỗi người một giọng/ chỉ một người biết thổi/ chỉ một người biết nghe/ ông không truyền/ cha không dạy/ biết yêu trời mách cho. Sống là vậy, Chết thì sao? Người đàn ông Mông chết bao giờ cũng được mang chôn theo chiếc khèn của mình. Để về nơi tổ tiên ở đâu đó trên trời còn nhận ra. Để đâu đó giữa vũ trụ bao la cũng có hội Gầu Tào còn mang ra mà thi thố chứ. Trước lúc đi, trong nghi thức tang ma của người Mông có thổi khèn. Linh thiêng nhất là bài khèn Tiễn hồn người chết lên trời. Bài khèn này không phải ai cũng thổi được. Người thổi khèn tiễn hồn được gọi là thầy khèn. Thầy khèn phải biết mọi lý lẽ, hiểu mọi nghi thức trong tang ma của người Mông. Đặc biệt, ông ta phải có căn mới đủ bản lĩnh để làm chủ được chiếc khèn và tiếng khèn. Bởi hành trình tiễn hồn không đơn giản. Người Mông quan niệm, con người lìa trần thì hồn chia đi ba nơi. Một số hồn ở mộ để canh giữ mộ. Một số hồn lên trời với tổ tiên. Một số hồn ở lại bàn thờ (Sử Ca) để che chở, phù hộ cho con cháu. Thầy khèn phải thổi bài khèn tiễn dẫn hồn người đến những nơi đó.

Khèn là biểu tượng văn hóa của dân tộc Mông. Tiếng khèn dỗ dành, an ủi, nâng đỡ tâm hồn con người khi buồn tủi, cô đơn; Tiếng khèn là sợi dây vô hình, là con đường nối tâm thức của con người giữa cõi thực và ảo. Tiếng khèn dẫn người sống đi trên đường đời và cũng dắt linh hồn người hết kiếp về với vũ trụ bao la. Sống khèn thương/ chết khèn đưa là vậy.

Chiếc khèn, tiếng khèn, điệu múa khèn đã làm nên tính cách phóng khoáng và hào sảng của người đàn ông Mông.

Ảnh | THND