Dọn đường đưa văn hóa vào kinh tế sáng tạo

Hiện nay, sức hấp dẫn của các sản phẩm văn hóa phần lớn được quyết định bởi năng lực sáng tạo, sản xuất và phân phối sản phẩm. Để văn hóa có sức sống bền vững và lan tỏa, Việt Nam cần phát triển hệ sinh thái sáng tạo một cách tương xứng.

Màn trình diễn tại Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng 2026 thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
Màn trình diễn tại Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng 2026 thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Sau hơn nửa năm triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ bốn khoảng trống lớn, trong đó năng lực sáng tạo các sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh quốc gia là điểm nghẽn nổi bật.

“Khoảng trống” sáng tạo

Thực tế cho thấy, tài nguyên văn hóa chỉ thật sự trở thành nguồn lực phát triển khi được “kích hoạt” bằng sức sáng tạo. Cùng một di sản, một chất liệu văn hóa hay một câu chuyện bản địa, nếu được kết nối với công nghệ, thiết kế, điện ảnh, du lịch trải nghiệm hay các nền tảng số, có thể tạo ra những sản phẩm có giá trị kinh tế cao và sức lan tỏa quốc tế.

Tuy nhiên, đây cũng là khoảng trống lớn của công nghiệp văn hóa Việt Nam. Dù sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú và lực lượng sáng tạo đông đảo, nhiều sản phẩm vẫn chủ yếu khai thác các giá trị sẵn có theo hướng tự phát, thiếu đổi mới về ý tưởng, chưa hình thành được chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ sáng tạo, sản xuất đến thương mại hóa.

Theo TS Vũ Đình Anh, Khoa Văn hóa và Phát triển (Học viện Chính trị khu vực III), trong bối cảnh kinh tế sáng tạo trở thành xu thế toàn cầu, yếu tố sáng tạo ngày càng quyết định sức hấp dẫn và năng lực cạnh tranh của các sản phẩm văn hóa. Tuy nhiên, hệ sinh thái sáng tạo ở nước ta vẫn còn phân tán, thiếu sự kết nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nghệ sĩ, viện nghiên cứu, trường đại học, các quỹ đầu tư, nền tảng công nghệ và cộng đồng sáng tạo. Chính sự đứt gãy giữa các mắt xích này khiến nhiều ý tưởng khó phát triển thành sản phẩm có giá trị cao.

Đồng quan điểm, PGS, TS Nguyễn Ngọc Hòa, Phó Giám đốc Học viện Chính trị khu vực III cho rằng, mối liên kết giữa văn hóa, kinh tế và công nghệ hiện vẫn còn lỏng lẻo. Hệ quả là kho tàng di sản đồ sộ của đất nước chưa được khai thác tương xứng, trong khi một số giá trị văn hóa lại đứng trước nguy cơ bị thương mại hóa cực đoan hoặc bị làm nghèo đi trong quá trình khai thác.

PGS, TS Nguyễn Ngọc Hòa cho rằng, trong kỷ nguyên số, vốn văn hóa là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo không ngừng. Càng được đầu tư bằng tư duy sáng tạo và công nghệ, giá trị của văn hóa càng được nhân lên, trở thành động lực phát triển bền vững.

Đánh thức tiềm năng từ doanh nghiệp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số, cạnh tranh trong các ngành công nghiệp văn hóa ngày càng gay gắt. Tuy nhiên, thị trường sản phẩm, dịch vụ văn hóa trong nước vẫn phụ thuộc đáng kể vào các nền tảng xuyên quốc gia, trong khi phần lớn doanh nghiệp văn hóa mới tham gia ở khâu gia công, có giá trị gia tăng thấp trong chuỗi kinh tế sáng tạo.

Theo các chuyên gia, muốn chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành sức mạnh kinh tế, doanh nghiệp phải trở thành chủ thể trung tâm của hệ sinh thái sáng tạo. Thực tiễn cho thấy, khi doanh nghiệp được tạo điều kiện phát huy vai trò, tài nguyên văn hóa có thể nhanh chóng trở thành động lực phát triển. Tại Huế, nhiều doanh nghiệp du lịch văn hóa và tổ chức sự kiện đã góp phần tạo sức hút cho các hoạt động dịp Giỗ Tổ Hùng Vương và kỳ nghỉ 30/4-1/5. Trong khi đó, Lễ hội Pháo hoa quốc tế Đà Nẵng đã phát triển từ một sự kiện địa phương thành thương hiệu du lịch quốc tế nhờ sự phối hợp hiệu quả giữa chính quyền và doanh nghiệp.

Theo Thạc sĩ Phan Thị Thúy Vân, Phó Viện trưởng Nghiên cứu phát triển TP Huế, doanh nghiệp văn hóa là chủ thể không thể thay thế trong phát triển kinh tế sáng tạo, vừa tạo ra giá trị kinh tế, vừa góp phần bảo tồn di sản thông qua các hoạt động sản xuất, kinh doanh và lan tỏa quyền lực mềm văn hóa Việt Nam ra thế giới.